Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Quê hương-Đất nước-Con người
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  09/08/2017  
  TUYÊN TRUNG HẦU NGUYỄN VĂN TUYÊN Kỳ III: KHU LĂNG MỘ Ở TÒNG SƠN  
   
 
 

Từ những giai thoại ở Tòng Sơn...

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Tuyên trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên qua đời tại Châu Đốc sau một cơn bạo bệnh. Nhà vua ban cho ông 100 lạng bạc và ba cây gấm Tống. Các con của ông cũng được triều đình trọng thưởng. Đại nam liệt truyện ghi sự việc này như sau: “Con trưởng là Cửu[1] theo hàm tập ấm làm quan Phó lãnh binh Hải Tây, con thứ là Trinh làm Ngoại úy cai cơ Trung dũng”. Mộ ông được an táng tại Tòng Sơn (thời đó thuộc huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang – nay thuộc xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp). Theo chúng tôi, sở dĩ phải đưa ông từ Châu Đốc về Tòng Sơn an táng vì đây là phần đất mà gia đình ông từ Thừa Thiên Huế vào góp phần khai khẩn và định cư. Hơn nữa, tại đây cũng đã có phần mộ của hai vị thân sinh của Nguyễn Văn Tuyên là ông Nguyễn Văn Hậu (được truy phong là Anh dũng tướng quân, Khinh xa đô úy, Thần sách vệ úy Nguyễn Hầu) và bà Võ Thị Đức (được truy phong mỹ hiệu là Thục Nhơn  - tức là vợ các quan có hàm Tam phẩm). Theo lời người xưa kể lại thì lúc đó Tòng Sơn còn là một bãi đất với nhiều cây cối sầm uất nằm cặp bờ sông Tiền, trong đó đặc biệt là có rất nhiều cây lâm vồ[2]. Sau khi Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên được an táng và xây thành lăng mộ thì nhiều câu chuyện linh thiêng đã được người dân trong vùng truyền lại với niềm tôn kính và mến mộ. Chuyện rằng nơi đây có một cặp rắn rất lớn khi ẩn, khi hiện trên các tàng cây làm nhiệm vụ bảo vệ cho khu lăng mộ. Chính vậy mà trẻ con chăn trâu trong vùng không hề dám thả trâu bò bén mảng đến đây. Phía dưới sông, thỉnh thoảng lại nổi lên một đôi thiên nga trắng. Lúc nào chúng xuất hiện ắt là vài hôm sau sẽ có sóng to gió lớn. Người đi ghe tàu, giăng câu thả lưới ngang qua thường nghe ngóng tin tức xem đôi thiên nga này có xuất hiện hay không để tránh giông bão.

lăng Tuyên trung hầu.png

Lăng Tuyên Trung Hầu

Một chuyện khác cũng nói lên được sự linh thiêng của khu lăng mộ. Đó là việc ông từ ở đình Tòng Sơn[3] thỉnh thoảng vẫn nằm mơ thấy có ba vị quan võ cỡi ngựa trắng đem theo binh gia rầm rộ ghé qua viếng đình Tòng Sơn. Hay như những người sống gần lăng mộ kể nhau rằng họ từng nghe trong đó vọng ra tiếng vó ngựa phi, tiếng trống giục, tiếng quân reo hò và cả tiếng nhạc khí trầm bỗng du dương. Có đêm, những âm thanh này kéo dài hơn một khắc. Do tin tưởng vào sự linh thiêng của Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên, nên người dân xung quanh vùng Tòng Sơn lúc đó mỗi khi có việc thường lập bàn hương án khấn nguyện ông phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Tuyên Trung Hầu có thể xem như vị thần của làng này mặc dù ông không hề được triều đình sắc phong thành hoàng bổn cảnh như  nhiều quan chức khác.

Những năm 1947 – 1948, khi thực dân Pháp đánh chiếm vùng này nhằm triệt hạ hết lực lượng Việt Minh thì đình, chùa, miếu mạo thường bị chúng cho máy bay oanh tạc. Khu lăng mộ Tuyên trung Hầu cũng bị chúng oanh tạc vì cho rằng đây là một trong những mục tiêu Việt Minh có thể ẩn náu. Nhưng dân làng cũng lại thường kéo vào trong khu này ẩn náu dưới đền thờ Nguyễn Văn Tuyên trong khu lăng mộ để nhờ ông che chở mỗi khi có bom đạn xảy ra. Một lần, Pháp cho ném vào nơi đây ba quả bom hạng nặng. Kỳ lạ thay, một trái rớt ngay bên hông miếu thờ thì bị lép. Hai trái khác thì rớt ngoài khu vực miếu thờ, nổ vang trời nhưng lại không gây hư hao vì về vật chất cũng nhưng không một người nào tổn thương dù khi nó nơi đây có hàng chục người ẩn náu. Trong số những người hôm đó có cả gia đình ông Nguyễn Trường Chấp là cháu đời thứ năm của Tuyên trung Hầu đang trong nom việc thờ tự khu lăng mộ này. Sau lần này, người dân nơi đây càng tôn kính và tin tưởng vào uy lực “âm đức” của Tuyên trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên ngày càng nhiều hơn.

... đến cuộc di dời đầy huyền thoại

Doi đất Tòng Sơn nằm sát bờ sông Tiền ngày càng bị xói lở nặng nề. Khu lăng mộ gia tộc Tuyên trung Hầu ở trong tình trạng bị đe dọa bởi dòng nước sông Tiền ngày đêm cuộn chảy. Thực ra ý định di dời khu lăng mộ này có từ những năm 1940 khi nơi đây chỉ còn cách bờ sông hơn hai chục thước. Cả gia tộc họp lại với sự chủ trì của ông Nguyễn Trường Chấp làm lễ khấn vái và “xin keo”[4] nhưng không được “Ngài” chấp thuận. Dần dà rồi do chiến tranh, do thời cuộc ly loạn, do mưu sinh nên việc di dời khu lăng mộ đi vào quên lãng. Mãi cho đến năm 1971, việc di dời này lại được khởi xướng trở lại từ viên xã trưởng xã Mỹ An Hưng.

             Năm 1971, Trịnh Văn Tại dự lớp tập huấn dành cho xã trưởng ở Vũng Tàu. Nửa đêm, đang thiu thiu ngủ thì ông nằm mơ thấy một cụ già phương phi, mình mặc gấm bào, đầu đội mão quan, lưng đeo gươm, chân mang hài đỏ xưng là Biền binh Thống chế Bảo hộ Cao miên quốc ấn hiện lên nói rằng: Mồ mả ở Tòng Sơn sắp sạt lở, truyền cho về di dời nơi khác. Giật mình thức giấc, xã trưởng Tại sực nhớ đến khu mộ cổ ở Tòng Sơn đang sắp bị dòng nước sông Tiền cuốn trôi là có thật. Trong lúc lòng còn bán tín bán nghi thì ít hôm sau ông lại thấy cụ già hôm trước hiện ra và nói y vậy rồi biến mất.

            Xong khóa học về Mỹ An Hưng, Trịnh Văn Tại liền đem việc mình hai lần nằm mộng báo cho gia đỉnh Tuyên trung hầu nghe. Thấy tình hình sạt lở đến nơi, hội đồng gia tộc quyết định cầu đảo và “xin keo” lần nữa. May thay, lần này “Ngài” ưng thuận. Trước ngày khởi công bốc mộ, nhiều người dân trong vùng quả quyết rằng trên bầu trời có một cuộc xa giá rầm rộ với nhiều hình ảnh linh quan, kiệu võng, đàn ca, hát xướng di chuyển từ đông sang tây. Một linh ứng khác là do quá đông con cháu khắp nơi nên khi cải táng khu lăng mộ, Hội đồng gia tộc không sao thông báo hết xuể. Ấy vậy mà, hôm làm lễ khởi công thì con cháu đời thứ 7, thứ 8 tề tựu về hàng ngàn người. Hỏi ra, ai cũng nói do nằm mộng thấy “Ngài” báo tin.

            Sáng ngày 15/5/1971, công việc cải cáng bắt đầu. Để bốc các ngôi mộ, hội đồng gia tộc đã huy động khoảng hai trăm trai tráng vạm vỡ dùng búa tài xồi đâp đẽo nhưng vẫn không sao phá vỡ các ngôi mộ. Cuối cùng, gia đình phải nhờ đến xe cẩu mất ba ngày mới hoàn tất. Những ngày cải táng ở đây, cả khu Tòng Sơn chật ních người như đi lễ hội. Bà Nguyễn Thị Trúc, cháu nội ông Nguyễn Trường Chấp kể: Đích thân mà hàng ngày phải làm 150 ổ bánh mì cho công nhân ăn. Mỗi ngày phải làm một con heo. Quận Chợ Mới ra lịnh ngưng bắt quân dịch thanh niên trong 5 xã để tụ về đây tiếp sức. Hàng chục ngàn người khác đổ xô về tìm cách múc lấy chất nước ngà vàng rịn ra dưới các linh quan để mang về trị bịnh “!”. Hết hay không thì không biết nhưng rõ ràng niềm tôn kính của người dân xung quanh vùng dành cho Tuyên trung hầu Nguyễn Văn Tuyên vô cùng to lớn.

            Hai linh quan còn nguyên vẹn là của ông Tuyên trung hầu Nguyễn Văn Tuyên (nặng hơn một tấn) và người con dâu là Thục thận An nhơn Đặng Thị Vị. Các linh quan còn lại tuy không còn nguyên vẹn nhưng vẫn không hề suy suyễn bên trong. Cụm mộ gồm sáu linh quan được di dời đền thờ mới ở dưới dốc cầu Cái Tàu Thượng nằm bên bờ kinh Cựu Hội. Từ cổng vào là mộ Nguyễn Văn Tuyên. Kế bên là mộ song thân ông là Nguyễn Văn Hậu và Võ Thị Đức. Phía sau lchồng ông Nguyễn Trường Cửu và Đặng Thị Vị. Cạnh đó là một Nguyễn Công Lực – em trai Tuyên trung hầu.

            Quần thể kiến trúc khu lăng mộ Tuyên trung hầu hiện nay ở Mỹ An Hưng A – Lấp Vò – Đồng Tháp có thể xem là công trình lịch sử liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp không chỉ của riêng Tuyên trung hầu mà còn ghi dấu của cả một gia tộc có công bảo vệ và gìn giữ bờ cõi Tây Nam bộ. Nơi đây, ngoài di tích mang tính lịch sử, thiết nghĩ cần quan tâm đầu tư đến trở thành một điểm du lịch của địa phương thuộc chuỗi liên kết du lịch và vùng An Giang – Đồng Tháp.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                             

 



[1] Tức Nguyễn Trường Cửu (1797 – 1838), Hải Tây Phó lãnh binh, sau là An Hà đốc phủ, Phó lãnh binh An Giang, tử trận tại Gò Sặt ngày 12/2/1838 được truy phong Tráng dực Phan công cho thần.

[2] Để khỏi nhầm lần giữa cây bồ đề và cây lâm vồ, chúng tôi xin đưa ra phân biệt như sau:

- Cây bồ đề Ấn Độ, gọi gọn là bồ đề, là loài cây gắn liền với truyền thuyết Đức Phật Thích Ca chứng thành đạo quả vô thượng giác, nhiều tài liệu trong nước gọi là đề hay đa đề, tên tiếng Trung là 菩提 (bồ đề thụ), tên tiếng Anh là Bo tree, Bodhi tree, pipal tree, tên khoa học Ficus religiosa. Người công bố tên khoa học đã dùng tính ngữ "religiosa" để nhấn mạnh sự liên quan của cây với truyền thuyết Đức Phật, vì religiosa có nghĩa là thuộc về tôn giáo. Cây bồ đề có chồi ngọn ngắn, cuống lá dài, đáy lá nhọn hoặc gần tròn, mép phiến lá gợn sóng, đỉnh lá có chuôi nhọn kéo dài thành chuôi

- Cây Bồ đề đường phố (cây lâm vồ/ficus rumphii): được trồng rất phổ biến ngoài đường phố, công viên, khuôn viên công sở, trường học, bệnh viện, bến bãi, đường làng, đền đài miếu mạo, cả ở nhiều khuôn viên chùa Phật giáo... là một loài tương cận với loài bồ đề, có ngoại hình tương tự bồ đề, nhiều tài liệu trong nước gọi là lâm vồ hay đề lâm vồ, tên tiếng Trung là 心叶榕 (tâm diệp dong), tên tiếng Anh là Rumpf's Fig Tree hay Mock Bodhi tree (có nghĩa là cây giả bồ đề), tên khoa học là Ficus rumph. Cây lâm vồ là loại cây gỗ lớn, có nhánh to, vỏ nhẵn, mốc trắng. Lá hình tam giác cụt, có khi hơi thót lại ở cuống, mép không gợn sóng, có đỉnh mũi nhọn hình tam giác, không có đuôi kéo dài.

[3] Đình Tòng Sơn nay cũng thuộc xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp được người dân lập ra để tưởng nhớ đến công ơn của ông Đoàn Minh Huyên (14 tháng 11 năm 1807 - 10 tháng 9 năm 1856), còn có tên là Đoàn Văn Huyên, đạo hiệu: Giác Linh, được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An. Ngoài vai trò là người sáng lập giáo phái (Bửu Sơn Kỳ Hương) bản địa đầu tiên ở An Giang, ông còn là một nhà yêu nước, nhà dinh điền đã có công khai hoang nhiều vùng đất ở Nam Bộ.

[4] Xin keo cũng phải theo thủ tục giống như xin xâm. Trước hết, đương sự phải qùy hoặc ngồi bệt xuống chiếu xá vài cái, rồi lấy 2 miếng gỗ hình bán nguyệt, mỗi miếng có một mặt phẳng và một mặt vòng, đưa lên ngang trán, miệng lâm râm cầu khấn. Khấn xong, người xin keo buông 2 miếng gỗ ra để cho rơi xuống mặt chiếu. Nếu được một mặt bằng và một mặt vòng, tức một Âm (ngửa) một Dương (xấp), có nghĩa là Thần đã xác nhận quẻ xâm đương sự đã xin.

 
     
  Hữu Nhân ( Báo Văn Nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |