Thứ Bảy, ngày 19 tháng 9 năm 2020        
     
 
   Shop văn nghệ
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  03/01/2013  
  HUYỀN KHÚC ĐỒNG THÁP MƯỜI - GIAO HƯỞNG THƠ VỀ MỘT MIỀN ĐẤT  
  Với 154 bài thơ của 46 tác giả, tuyển tập Huyền khúc Đồng Tháp Mười như là bản tổng phổ nhiều bè bối, cung bậc, màu sắc của tác phẩm đại giao hưởng về một miền đất giàu tiềm năng, chất chứa khát vọng vươn lên và thấm đẫm tình người. Nổi bật là phần phối khí cho cây độc huyền cầm ngọt ngào, sâu thẳm, vọng lên âm hưởng ngợi ca đất nước, quê hương đang từng ngày đổi mới, khởi sắc.  
 
 


 tho2001-2012.jpg

Một tuyển tập ra đời - nhân Đại hội Hội VHNT Đồng Tháp nhiệm kì 2012 - 2017 - đánh dấu chặng đường sáng tạo, trưởng thành (ít nhất là trong khoảng thời gian 5 năm thuộc nhiệm kì 2007 - 2012) của một miền thơ hồn hậu, chân chất nhưng lắng đọng dư ba và khát khao cất cánh. Với 154 bài thơ của 46 tác giả, tuyển tập Huyền khúc Đồng Tháp Mười như là bản tổng phổ nhiều bè bối, cung bậc, màu sắc của tác phẩm đại giao hưởng về một miền đất giàu tiềm năng, chất chứa khát vọng vươn lên và thấm đẫm tình người. Nổi bật là phần phối khí cho cây độc huyền cầm ngọt ngào, sâu thẳm, vọng lên âm hưởng ngợi ca đất nước, quê hương đang từng ngày đổi mới, khởi sắc.

Trước hết xét về mặt thể loại, Huyền khúc Đồng Tháp Mười là một tuyển tập được tập hợp, lựa chọn khá phong phú nhiều thể thơ với những cách tân đáng kể trong lối thể hiện. Dường như để đảm nhiệm phần phối khí cho đàn bầu - theo cách ví von ở trên - thơ lục bát Việt Nam đã in dấu ấn đậm nét trong tuyển tập này. Theo thống kê bước đầu, đã có 44 bài thơ được làm theo thể lục bát (chiếm gần 1/3 số bài cả tuyển tập), trong đó có nhiều tác giả được chọn từ 2 bài trở lên như: Đỗ Ký (4); Hoàng Hà (4); Thu Nguyệt (3); Trần Quốc Toàn (3); Thai Sắc (3); Khắc Chu (3); Bạch Phần (3); Nguyễn Hòa Hiệp (3); Phan Ngọc Quang (2); Nguyễn Chơn Thuần (2); Nguyễn Giang San (2); Minh Hoàng (2)… Điều đáng nói là các tác giả đã luôn có ý thức làm mới thơ lục bát bằng nhiều cách khác nhau như: ngắt câu chuyển dòng; thay đổi tiết tấu, đảo nhịp; cách tân lối diễn đạt, hình ảnh; tiếp cận đa dạng đề tài… khiến độc giả có thể gặp quá nhiều dòng sáu tám trong một tập sách song vẫn thấy cuốn hút, ít có cảm giác nhàm, lặp. 

Thơ tự do - như là một đặc phẩm của phong cách hiện đại - cũng góp phần làm nên nét nổi trội về phương diện loại thể của tuyển tập này. Tuy số lượng chưa nhiều bằng thể thơ lục bát và một số thể thơ truyền thống khác song thơ tự do ở đây có vẻ như đã khắc họa nên một diện mạo riêng, tạo ấn tượng, không chỉ ở phương diện đề tài mà còn trong cả cách thức trình diễn. Tiêu biểu về khía cạnh này là các tác giả: Hữu Nhân; Lê Minh Hùng; Thanh Dũng; Trần Minh Tạo; Chiêu Linh; Giang Thanh; Lê Minh Chánh… và cả Trần Quốc Toàn; Thai Sắc… Dường như thơ tự do trong tuyển tập này đã góp phần đắc lực trong việc định dạng phong cách tác giả một cách rõ nét nhất, nếu muốn lí luận hóa văn chương, xem xét thơ ở phương diện này.

Như vậy, đơn thuần về mặt hình thức, có thể nói Huyền khúc Đồng Tháp Mười đã xác lập được ít nhiều giá trị trong xu thế phát triển của một nền thơ, nghĩa là so với các tác phẩm trước đây, tuyển tập này không chỉ kế thừa tất cả cái hay đã có mà còn lấp lánh những khởi sắc như nêu trên, dù chỉ mới đề cập ở lĩnh vực loại thể.

Một tuyển tập thơ với tập hợp đa dạng đề tài, phong phú nội dung, khi đọc xong, đọng lại trong mỗi người yêu thơ sẽ là những điểm nhấn khác nhau với khúc xạ dư ba đồng sáng tạo. Ở đây, chỉ chọn ra một vài điểm nhấn có lẽ dễ đồng điệu, đồng cảm nhất để giới thiệu trước với độc giả.

Thứ nhất, Huyền khúc Đồng Tháp Mười là khúc hát bay bổng, rạo rực về quê hương Đồng Tháp. Đề tài hay là phạm vi hiện thực khách quan - trữ tình này đương nhiên luôn là sự ưu tiên số một của các tác giả đang sinh sống, làm việc trên mảnh đất này. Đó là Vùng quê tôi sinh ra của Nguyễn Hòa Hiệp với giăng trắng cánh đồng cơn mưa mùa lũ hay trong Câu chuyện về những cánh đồng của Minh Hoàng có vung nhát cuốc bửa đôi bờ đất. Ta nhận ra cái chất Đồng Tháp qua: Sáng tinh tươm chân ướt qua cầu; Bông điên điển đậu vàng tóc rối (Khúc mùa quê - Nguyễn Thị Kim Tuyến) hoặc: Cột nhà ngấn nước chưa phai; Mà xuân như đã tái lai nơi này (Mùa xuân nơi đỉnh lũ - Nguyễn Chơn Thuần). Ám ảnh về những mùa nước nổi dường như là một đặc trưng (hay đặc sản?) của văn học nghệ thuật nơi đây, khiến bóng đổ của hình ảnh này thường in đậm trong những tuyển tập sáng tác. Nhưng hình như Huyền khúc Đồng Tháp Mười đang thực thi sứ mệnh một ngoại lệ. Chỉ có dăm ba bài thơ viết về đề tài này đã minh chứng cho điều đó. Hơn thế, cách tiếp cận, khai thác và nêu cao ý tưởng khi viết về lũ lụt ở Đồng Tháp Mười cũng đã khác đi trong Thủy chung trước lũ (Khắc Chu) hay Dưới đám mây sẫm màu (Nguyễn Giang San)… Cái nguyên lí sống chung với lũ mà cha ông từ bao đời đã thấm đẫm giờ đây được khơi lại và đi vào thơ ca một cách hồn nhiên, thuần khiết, nhân bản. Thơ viết về quê hương Đồng Tháp trong tuyển tập này dường như thiên về những hình ảnh mới lạ hơn, hiện đại hơn, ví dụ: Cây dương cầm bên bờ sông Tiền (Trần Quốc Toàn); Huyền khúc Đồng Tháp Mười (Thai Sắc); Bước chân (Hữu Nhân); Cộ trâu (Lê Minh Hùng); Đi ngang ngọn khói hoàng hôn (Đỗ Ký); Con mương có màu mực tím mồng tơi (Trần Minh Tạo)… Những hình ảnh này ít nhiều đặc tả một diện mạo khác hẳn - gần gũi, toàn diện và phong phú hơn - của thơ, của người, của đất Đồng Tháp. Ta gặp ở Trần Quốc Toàn cái mới mẻ trong lựa chọn chi tiết và lối diễn đạt: Đêm vừa nhỏ hết giọt huyền; Nhạc 307 đã kèn ngày lên (Cao Lãnh đêm mưa giáng sinh). Điều đó cũng bộc lộ khá đậm ở Thai Sắc: Về quì trước hạt lúa phơi; Nghe nhức một tiếng ru hời tân trang (Trở về đất quê); ở Đỗ Ký: Mẹ ta ngồi bến rửa rau; Sông bao la rọi mái đầu bao dung (Mẹ); ở Trần Minh Tạo: gói lại nơi lòng câu ca dao đang trườn qua ruộng mạ - tôi bánh mứt giao thừa nhang khói rạ rơm tôi (Mùa nắng chuồn chuồn)... Trong mảng đề tài chủ đạo này, chùm thơ của Lê Minh Hùng như là một giọng solo độc đáo. Cái cách mà tác giả này lựa chọn, đặc tả những chi tiết gắn chặt với đất quê Đồng Tháp là khá đặc sắc, mới mẻ. Đây là chân dung con gái xứ sông Tiền: Em lội ruộng lộ tròn bắp trắng; Phù sa sông Tiền thoa mấy ngấn son (Mùa nước - mùa em); đây là cảnh mùa gió chướng - mùa len trâu: Nước nẩy đọt mù u nằm ngửa; Mùa len trâu tìm cọc neo ghe (Gió chướng); đây là cách đối nhân xử thế của nông phu miệt đồng bằng: Người mời trâu uống nước mía tươi; Cho chân cứng rướn hơi thật khỏe (Cộ trâu)… Những dòng thơ, bài thơ như thế chứng tỏ năng lực tiếp cận, khai thác, vinh danh hiện thực cuộc sống của những người làm thơ ở Đồng Tháp ngày một sâu sắc, toàn diện và sáng tạo.  

Thứ hai, Huyền khúc Đồng Tháp Mười là khúc hát trầm ấm, miên man về nhân tình thế thái, về những mối quan hệ giằng dịt đầy buồn vui, cam khổ giữa cõi người. Đây cũng là một mảng thơ thế mạnh của Đồng Tháp bấy nay. Trong tuyển tập này, gần như tác giả nào cũng có những dòng thơ, bài thơ đụng chạm đến mọi chiều kích cuộc sống đang diễn ra. Nếu Hữu Nhân chiêm nghiệm: Dẫu đôi lần - tôi phải khóc - cho những bước chân mình - gai góc (Bước chân) thì Thanh Dũng cắc cớ: Vậy ai biết: Bụt nhà là nam hay nữ? (Bụt nhà). Nếu Trần Thị Hoàng Anh khắc khoải ao ước thấm đẫm nhân văn: Xin giải lời nguyền khắc lên mình Tổ quốc; Những người đàn bà mãi mãi hết vọng phu (Hòn vọng phu) thì Trương Vĩnh Khánh ưu tư chiêm nghiệm cõi thực hiện hữu: Tô Thị còn có con bồng; Chị tôi lặng lẽ phòng không một mình (Chị tôi). Nếu Khắc Chu: Ta quì trước mộ cha ta; Sau ngàn mất mát còn là mong manh (Thanh minh) thì Phạm Thị Ngọc Bích: Con đến đâu cũng đang về với mẹ; Người mang đôi - dép - ngược đợi chờ con (Mẹ và đôi dép ngược)... Ở mảng đề tài này có một tác giả trẻ là Lê Minh Chánh đã tự nguyện trở thành một trong những người lính xung kích. Anh viết khá nhiều thơ nhân tình thế thái với giọng điệu già trước tuổi, ánh xạ không ít triết lí, triết luận Đông Tây mà 5 bài thơ được tuyển ở đây là một ví dụ. Với Lê Minh Chánh, có khi người đọc bắt gặp cái cảm thức chơ vơ trong Màu hoa cũ: Quét sạch chiều cho hoa nắng rụng; Rồi nhìn mỏi mắt một sân không; có khi tìm được nỗi niềm đau đáu kiếp người trong Quạnh hiu: Ngồi ru sông chảy lên trời; Mẹ thành tượng đá nghe đời xuống mưa; có khi bất ngờ rung cảm như một khám phá trong Không thấy: Những lứa sâu bò chậm rãi trong vườn; Suốt đời sâu chỉ tin vào lá mới... Có thể đây đó có độc giả chưa thích lắm kiểu thơ này của những người như Lê Minh Chánh, dù sao, vì sự phát triển và vươn lên của thơ hiện đại Đồng Tháp, sự dấn thân này của họ rất đáng biểu dương, trân trọng và khuyến khích.

Thứ ba, Huyền khúc Đồng Tháp Mười là khúc hát xao xuyến, ray rứt về những nỗi niềm và khát vọng mang tính bản thể, lắng đọng cõi riêng và ăm ắp tình người. Thật ra, đây là một trong những xu thế sáng tác cơ bản của thi ca, xuất hiện ngay từ khi con người biết làm thơ. Biến thiên qua thời gian, nhiều lúc thơ hướng nội đã bị chìm khuất dưới những lối thơ khác. Gần đây, những bài thơ viết theo cách này đã xuất hiện nhiều hơn, dày đặc hơn. Trong tuyển tập này, những bài thơ (dòng thơ) như thế không ít. Đây là một Đặng Tiền Duyên với biểu tượng: Lá vàng thu dâng hết đời cho nắng; Thành cơn mưa rụng xuống cõi vô tình (Không đề). Và đây là một Hữu Phước trong mong ước: Hoa trái thơm hương một thời chăm chút; Người dạo qua nhìn ngắm một lần thôi (Mai sau...). Thu Nguyệt in một chùm ba bài lục bát ngắn nhưng là ba bài thơ tiêu biểu cho mảng đề tài này mà dòng thơ nào khi đọc lên cũng ngân ngấn nỗi niềm riêng cồn cào khơi gợi: Vách lòng ướt đẫm giọt tuôn; Mái tim chống chếnh gió luồn rát môi (Lạnh lì); Quen rồi mà vẫn cứ đau; Vẫn y như thuở bắt đầu cô đơn (Đồ cũ); Mai sau rồi cỏ trùm lên; Mồ ai dù kẻ sang hèn cũng xanh (Ờ, vậy đi!). Có thể nói, mọi chiều kích của đời sống hiện hữu cũng như đời sống tâm linh đã được các tác giả tiếp cận, khám phá với những phát hiện lí thú, khơi gợi. Vả chăng, đây mới chính là một trong những sứ mạng đích thực của thơ, khi trở thành binh chủng tiên phong trên mặt trận bên trong cõi sâu thẳm tình người, tình đời.

Nhìn tổng thể, Huyền khúc Đồng Tháp Mười là một tuyển tập thơ đầy đặn về nội dung, phong phú về hình thức, đánh dấu bước phát triển liên tục và thành tựu nổi trội của nền thơ Đồng Tháp trong chặng đường vừa qua. Tuy nhiên, nếu mạnh dạn tuyển chọn sát hơn, lược bớt những bài chưa thật ấn tượng của một vài tác giả, sức nặng của cuốn sách chắc chắn sẽ trĩu hơn trên tay người đọc.

Với tuyển tập thơ này, người đọc có thể tin tưởng và hi vọng vào một phong trào thi ca đang định hình và ngày một khởi sắc trên mảnh đất Đồng Tháp. Và như vậy, Huyền khúc Đồng Tháp Mười như là một khúc hát ngân vang vào quá khứ và vọng dài tới tương lai…

 

                                               10.2012

                                                                                                              
 
     
  Tao Đàn ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật












  • PHẢI VẮNG (20/08/2020)

  • CƠM NƯỚC ĐÁ (20/08/2020)








  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |