Thứ Hai, ngày 24 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  23/11/2012  
  Má ơi! Con có lỗi với má!  
 

Hồi ký của Hoàng Thiện

1.Má tôi tên Phạm Thị Sa, sanh năm 1895, quê quán ở xã Mỹ Thuận, huyện Cái Vồn, tỉnh Vĩnh Long. Tía tôi tên Võ Văn Tổ, sanh năm 1893, xã Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đều là giai cấp bần nông. 

 
 
 

Hầu hết người dân ở đây đều là tá điền, không có đất cắm dùi vì đất đai đều về tay vua quan, địa chủ. Cuộc đời cơ cực, tay làm hàm nhai, làm quần quật mà không đủ ăn. Tía má tôi  có  tới mười một người con. Năm 1936, tía má tôi bồng chống gia đình đến Cà Mau khai hoang, mở đất làm ruộng. Ngày làm, đỉa, vắt đeo cắn bắt không kịp. Đêm về ăn cơm phải giăng mùng, muỗi bay như cám rải. Ở đây, người ta thường nói “Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh” là rất đúng! Lao động cật lực, vật lộn với khí hậu ẩm ướt, còn phải cảnh giác với thú dữ hiểm nguy. Trời không phụ lòng người, lúa trúng mùa! Niềm vui, nụ cười chưa tạn, thì bọn địa chủ đánh hơi được, chúng kéo đến xua đuổi gia đình tôi phải rời khỏi nơi đây tức khắc! Không chống lại được, gia đình tôi đành dắt díu nhau ra đi mà đau nhói tim gan! Tâm can bồi hồi, không biết phải về đâu? Gia cư gói trọn dưới chiếc ghe, sóng gió trôi dạt đến xã Mỹ Thiện, huyện Péam chor, tỉnh Pray veng biên giới Việt Nam, Campuchia. Tại đây, gia đình tôi mướn đất của địa chủ “Thầy Cai Két” để lám rẫy. Tía tôi và các anh chị lớn phá lâm, làm đêm, làm ngày, trời sáng trăng làm tới mười một, mười hai giờ khuya, xới móc lên từng ngó đế, từng củ cỏ cú, làm kỹ lưỡng như vậy nên bắp trúng, đọt bằng trang, so hàng nối nhau bồng con, phất cờ, cùng bông chàng màu tím, đỏ rực, thoảng hương thơm phức. Từng trái dài hơn gang tay, hột chen nhau nảy nở, dày đặc phủ giáp cùi. Còn củ cải, củ nào củ nấy bằng bắp tay, trắng nõn thấy mà mê! Hai năm liền trúng mùa, gia đình tôi vui mừng, hạnh phúc hả hê, xóa đi bao nỗi gian truân! Nhưng chuyện không lành lại ập đến! Dòng họ địa chủ thấy gia đình tôi làm có ăn, chúng ganh tị, đồng lõa nhau đuổi gia đình tôi, không kịp thu hoạch mùa bắp mới! Tía tôi kéo chiếc ghe lên tréc, chuẩn bị về xứ. Ghe chưa kịp khô thì bị bọn trộm ăn cắp mất! Mất ghe coi như “ Bị chặt cụt chân”, đành bám lại. Bọn chúng tiếp tục cho đám côn đồ vô đốn bắp. Tía tôi đang canh giữ, vừa chống cự vừa la lên cầu cứu, những người giăng câu lưới ở đây đếu nghe thấy tiếng la rất lâu, nhưng họ tưởng ở đây có cái xẹc chứa đánh bài, ngỡ đánh lộn nhau nên không đến tiếp cứu. Có người nói: Bọn này đông lắm, hồi chiều thấy tụi nó tụ tập hơn mười chiếc xuồng.

Tía tôi tuy vóc dáng cao to, chắc nịch nhưng đơn thân độc mã chống cự không nổi với bọn dã man cố ý, nên bị chúng giết chết tại đám bắp vào đêm 11 tháng 6 âm lịch năm 1941. Chúng để lại cái thúng giê chứa đấy bắp. Cái thúng này của vợ tên cướp, hàng ngày nó đi bán trầu cau, ai ai cũng quen thuộc “Cái thúng này là của tên hung thủ giết chú Ba”- là tía tôi!. Họ quả quyết, họ động viên gia đình tôi đi kiện, kể cả xã Hoành- con địa chủ “Cai Két” cũng đồng tình, vì họ thương tía má tôi hiền từ, tu hành làm phước cho bao người, không làm mích lòng một ai, nên ai cũng thương cũng mến “Ông đạo Ba” và căm ghét bọn dã man!

Tía tôi chết làm chấn động cả vùng. Chị Ba tôi đi kiện từ xã đến tỉnh, lên tận thành phố Nam Vang. Có những nơi họ thương tình cảnh, họ khuyên nên về Việt Nam kiện, chớ ở xứ Miên này, tụi nó lo tiền hết rồi. Đúng vậy, nó giàu có lại có thế lực, có bầy bò trên trăm con, nó bán sạch để chay lo. Má tôi kêu các con ngồi lại khuyên: “Các con ơi! Tía con đã chết, lòng má đau như cắt! Mình tiếp tục đi kiện, tía con cũng không sống lại được, hơn nữa mình nghèo, không thắng được đâu! Mình làm phải sẽ gặp phải, kẻ làm ác sẽ gặp ác. Trời đất không dung tha nó đâu!”.Tất cả nghe lời má khuyên, đành bỏ vụ kiện, trong lòng mỗi người ngậm oán nuốt hờn, đau đớn cho cái chết của tía và thương má vô cùng!

Gia đình tôi nghèo nhưng tía tôi học giỏi chữ Nho. Vì có vợ con nên thi rớt huề thượng về tu tại gia. Chòm xóm có tang lễ, tía tôi đến tụng kinh giùm, không bao giờ nhận quà vật gì, thế nên mọi người đều kính trọng. Tía tôi mất để lại đau thương quá lớn, một gánh nặng vô tận! Má tôi phải gánh vác, tần tảo mua gánh bán bưng nuôi mười một đứa con, trong khi đứa út mới vừa giáp thôi nôi. Má tôi vừa bán bánh tét, bánh ít, chè tàu thưng, xôi vị…Má tôi khéo tay cho nên mọi người ưa thích bánh trái bà làm. Lúc bấy giờ tôi mới tám tuổi cũng giúp má đội bánh đi bán tiếp, bữa nào má và tôi bán hết thì vui mừng khôn xiết, có bữa bán ế lại gặp rủi, má tôi đội bánh qua cầu khỉ té bị thương sưng mình sưng mẩy, phải bỏ bán mấy ngày liền! Không có tiền lo cho gia đình, má tôi khóc đến sưng cả mắt!

Lần lượt ngày tháng trôi qua, thời thế đã đến, Cộng hòa vệ binh nổi lên. Việt Minh bắt tên Vuông, địa chủ “Cái thúng giê”, đầu sỏ đám cướp, lên án tử hình, đồng thời quyết định cấp toàn bộ khu đất này cho gia đình tôi làm chủ. Không được bao lâu, gia đình tôi lâm vào cảnh ly tán, bởi giặc Tây ruồng bố. Gia đình tôi và cả xóm vô đồng trốn, chia ra làm hai điểm: Chị Năm Vượng và các anh lớn Tám Sĩ, Chín Kiện ở một điểm, nhưng không thoát được, bọn Tây lùa hết mấy trăm người ra vùng tạm chiếm. Riêng anh Hai Quyên có vợ ở Tân Châu. Số còn lại hầu hết tham gia cách mạng. Má tôi về Hội mẹ chiến sĩ, chị Ba Thức làm đội trưởng đội tiếp tế chi đội 18 và tổ trưởng tổ hội chị. Anh Ba Tú, anh rễ thứ ba trong đội Cộng hòa vệ binh, dần dần là ủy viên công an, ủy viên kinh tài xã. Chị Mười Thưa, chị Út Sao là nữ dân quân, tôi- Út Sến là trung đội trưởng thiếu sinh quân, em Út Dầu là thiếu nhi cứu quốc.

 

2. Chị em ở vùng cách mạng không liên lạc được với các anh chị ở vùng tạm chiếm, không biết ai sống ai chết thế nào, ở đâu? Tình máu mủ ruột thịt đành cắn răng chịu đựng đau khổ! Má tôi quần quật lo nuôi con, lại vừa lo, nhớ các con bị giặc chia cắt biền biệt nơi xứ lạ quê người.

Nhớ con bao nhiêu, má tôi càng mở rộng vòng tay nhân ái nuôi nấng đùm bọc bộ đội, cán bộ chiến sĩ như con ruột của mình. Có món ăn gì ngon cũng để dành cho bộ đội. Gia đình tôi quá nghèo, nhưng bộ đội thì quá đói! Giác trưa thấy các anh ra sau đồng bắt ốc nấu ăn cho đỡ dạ, không để đồng bào thấy, nhưng má tôi rất thấu hiểu. Thấy các anh vào nhà, má tôi nhìn từng anh mà rưng rưng nước mắt! Trong nhà còn bao nhiêu lon gạo, má tôi đem ra  hết cho bộ đội nấu ăn. Rồi gia đình ăn cháo cây nưa và hột bông súng.

Có những đêm tôi giăng câu bán cá mua được bảy tám lít gạo, gia đình ăn được tuần lễ, bộ đội về, má tôi đem ra cho bộ đội hết rồi tiếp tục ăn cháo nưa và hột bông súng, cứ mãi như thế.

Đến nhà tôi nhiều nhất là đơn vị 970 pháo binh tỉnh, vì trong đó có anh Bùi Quang Thép, con nuôi của má tôi. Kế đó là trung đoàn 115, đại đội 947, 948 thuộc tiểu đoàn 311.

Còn ở địa phương, xã ủy, ủy ban xuống ấp làm việc là đến nhà tôi ăn nghỉ. Như anh Hai Lựa, anh Bảy Trầm, ông Hai Liêu, ông Ba La, ông Chín Xu, Năm Đêm, Ba Bâu, Út Quý, anh Hai Trì, Hai Mỹ, chị Ba Tho, Tư Phòng…

Nhà chứa các anh túc trực như anh Hai Kỹ sư Nhâm, vợ chồng anh Mười Thu, viện trưởng viện bào chế Nam bộ. Cán bộ đến và đi có anh Quạng, Khu bộ phó; bác sĩ Trần Nam Hưng; anh Tư Long, Trưởng ty công an; anh Sáu Khang, Phó ty; anh Văn, Tỉnh đội trưởng; anh Mẫn Tỉnh đội chánh…

Phía Isarac có ông Keo mô ni, Keo sơ val, ông Đinh Hoàng Thúc (Thạch Ba), ông Tư Nhung, ông Bảy Sến, Nghìn Hố đơn vị B6 Cam Bô (160)… Gia đình tôi tuy nghèo nhưng các đồng chí thích đến. Bộ đội về đóng quân trong nhà, một anh chạy vô trong nhà xúc gạo nấu cơm, một anh xuống hầm xúc cá, số chạy vô đồng nhổ bông súng, hái rau muống đem về quây quần nhau ăn uống, vui mừng rạng rỡ, thắm tình quân dân đoàn kết đậm đà.

Đoàn văn nghệ xã trên bốn mươi em do tôi làm trưởng đoàn. Tôi dẫn đoàn về nhà, đứa thì bắt gà làm, đứa thì nấu cơm, đứa khác lục xoài đang vú trong chiếc xuồng, mạnh đứa nào đứa nấy ăn, má tôi không bao giờ rầy la, lại cười vui.Nhà vắng bộ đội, đoàn văn nghệ là má tôi rất buồn.

Hoàn cảnh cuộc sống tuy chật vật, má tôi già yếu, nhưng sẵn sàng nhận lãnh ba con nuôi: Anh Bùi Quang Thép, đại đội 970 pháo binh; anh Lê Quang Thành, cán bộ phòng điều tra công an Miền ( Isarac); anh Thành viện bào chế Nam bộ. Má tôi vận động hội mẹ chiến sĩ, hội chị ủng hộ quà vật, cưới vợ cho hai anh chị Thành chu toàn và hạnh phúc.

Mỗi lần bộ đội về đóng quân, má tôi cùng hội mẹ, hội chị vận động người người ủng hộ bầu bí, cà ớt, cá mắm cho bộ đội; vận động cả thiếu nhi vô đồng hái sen lột ra mấy giạ bột, nấu bằng “chảo đụng”, xong đem phát cho từng đại đội. Món quà tuy không lớn nhưng thể hiện tấm lòng người ở hậu phương. Các anh bộ đội xúc động nói: “Các má thương lo cho các con như con ruột, các con xem má các má như mẹ ruột. Các má là nguồn an ủi, động viên các con bớt nhớ nhà, chiến đấu càng hăng say, không biết mỏi mệt. Các má là dòng sữa ngọt tiếp sức cho chúng con!”.

Cơ khổ lúc bấy giờ đói rách chẳng nói chi, ở cái nơi sáu tháng khô, sáu tháng nước nổi chẳng có chiếc xuồng cắm câu, giăng lưới, phải lội nước, đi tới đi lui bằng bè chuối.

Ở đây tụi Tây đóng hai cái đồn: Đầu ngoài Hồng Ngự vô tới Cầu Muống, ngang sông là đồn KasKo. Vô tới xã An Bình là đồn Tiên Lữ. Hằng tháng chiếc tàu Tây D27 tới lui tiếp tế cho hai đồn này. Chúng vào sông Sở Thượng, cái chuồng cu cao hơn đọt cây, mọi người bơi xuồng vô đồng trốn, chúng thấy rất rõ bắn các cỡ súng nghe như trời sập.

Năm Thìn nước lụt, nhìn cánh đồng thấy sóng nước như cái biển. Gia đình tôi gặp may vớt được chiếc xuồng thốt nốt của Miên trôi xuống. Chiếc xuồng này làm chân để đi. Bữa nọ tàu Tây vô, nghe tiếng mõ đánh, ai nấy xuống xuồng bơi tốc vô tận mí giồng có ven cây che khuất. Còn gia đình tôi lui cui dọn đồ đạc xuống xuồng thốt nốt, xong xô ra thì má tôi liền nhảy xuống nghe cái xộn: “Chờ má chút, để bưng thúng xoài thúng ổi “. Mấy chị nói tàu vô tới gần làm sao kịp. Má nói yên giặc có xoài có ổi làm quà tặng cho mấy đứa nó ăn. Xuồng ra cách năm trăm mét là láng trống, thấy tàu chuồng cu chạy lướt qua từng đọt cây đã gần tới Bầu Gốc. Chúng bằn xối xả, đầu đạn rải như mưa bấc “Lụt chụt léo xèo”! Đầu chì nổ bốp bốp, khói, nước mịt mù bủa vây chung quanh xuồng. Mọi người nằm quẹp xuống, nào bơi bằng dầm, nào bơi bằng tay, ngặt nỗi xuồng thốt nốt bơi mạnh chừng nào nó càng hút ngược trở lại, bỗng nghe tiến la thất thanh của chị tôi: “Má ơi, con bị thương”. Má tôi kêu trời! Rồi rờ khắp mình chị tôi, thấy không có máu, chỉ ở dưới có chỗ ươn ướt nghe hơi âm ấm. Má mắng “Quỷ mầy”. “Tại con sợ quá”! Ai nấy mình mẫy ướt  đầm, nghĩ đạn nó tránh mình. Nhìn chiếc chuồng cu lướt qua mà chiếc xuồng thốt nốt vẫn còn ở ngoài trống.

Yên giặc bơi xuồng về, bộ đội cùng lúc về dọn đồ lên thấy thúng xoài, thúng ổi bị móp méo, má tôi kể cho bộ đội nghe, các anh hết sức thán phục và cảm động. Cầm trái xoài dẹp đép giơ lên, mọi người cười rộ, rồi cùng vừa gọt xoài ăn vừa kể nhau nghe về những nguy hiểm đã qua.

Thời gian trôi qua không lâu, chiếc tàu D27 bị bộ đội ta đánh chìm trên sông Sở Thượng, cách nhà tôi khoảng một trăm năm mươi mét. Chúng hết ngang tàn làm mưa làm gió ở vùng này.

 

3.Sau hiệp định Giơ-neo, Khu ủy Khu 8 về đóng ở gò chùa Mỹ Cân. Lúc bấy giờ má tôi là hội trưởng hội mẹ chiến sĩ hoạt động bí mật, vì ở đây thuộc Campuchia. Má tôi vận động kết hợp cùng cơ sở ở đây, bà con nhiệt tình ủng hộ. Mùa bắp về, xe trâu kéo từng xe bắp nấu, bắp tươi đến tận căn cứ. Mùa mè thì hàng chục mâm mè ngào đường, trà con ó đen thơm lừng khắp cứ. Tết thì bánh tét, bánh ít ăn không hết được phơi trên mái trại. Đặc biệt là hơn năm tổ xay lúa, giả gạo tiếp tế cho Khu ủy. Có lần giặc mở trận càn lớn bảy ngày đêm vào mùa nước nổi bao vây Khu ủy. Bọn giặc ăn toàn cơm sấy, còn ta thì ăn toàn cơm nóng, cá tươi. Đơn vị bảo vệ Khu ủy bẻ gãy trận càn, giữ cho Khu ủy được an toàn.

Đó là tấm lòng của các má cơ sở Việt kiều ở xã Mỹ Thiện, xã An Bình, xã An Phú như vậy đó.

Lúc bấy giờ tôi cùng anh Hai Bình ( BÌnh Cậy) là quân báo Khu 8, lãnh đạo cánh quân cứ điểm và đường trường từ Tân Châu xuống Hồng ngự, từ Hồng Ngự chạy dọc lên Hố Lương. Lãnh đạo quân báo Khu là đồng chí Quốc Hoàng. Trận càn lớn ấy của địch, cành quân báo của tôi nắm vững tin tình báo chính xác và cùng vận động tiếp tế đầy đủ lương thực cho Khu ủy, giành thắng lợi, bẻ gãy trận càn, cánh quân báo chúng tôi và bản thân cùng anh Hai Bình được Khu ủy khen thưởng và tặng quà. Lãnh đạo quân báo Khu ủy quyết định rút tôi về làm trưởng quân báo huyện Hồng Ngự, là điểm quan trọng chốt trung tâm nối liền Sài Gòn, nắm bắt địch tình thuận lợi báo thẳng về Khu ủy kịp thời. Vì đó là quyết định của Khu nên tôi tuyệt đối chấp hành.

Hoàn cảnh gia đình chỉ có mình tôi là trai, mẹ lại yếu, chị Ba cũng lớn tuổi, anh rễ đã tập kết, em gái út mới mười bốn tuổi; hai mươi công lúa đang xây đòng đòng; con heo nái chửa sắp đẻ, tôi xin ý kiến má tôi. Má tôi không ngăn cản mà còn động viên. Được má đồng tình, tôi chuẩn bị đồ đạt đem xuống xuồng xong xuôi, thì tối lại anh Hai Kính, anh Bảy Phấn, Út chót- cán bộ địa phương đến tiễn đưa. Má tôi không khóc, thấy chị Ba khóc, má tôi nói: “Tao sanh đẻ nuôi nó từ nhỏ đến lớn, tao không khóc, tại sao mầy khóc? Hãy vui lên cho nó nó an tâm lên đường làm tròn nhiệm vụ”. Các đồng chí địa phương vỗ tay: “hoan nghinh bác Ba!”. Tôi siết chặt tay từ biệt mọi người và đi xuống xuồng bơi thẳng ra Cả Cát, giao liên rước đưa về huyện ủy Hồng Ngự đóng ở Giồng Găng. Mùa nước nổi, sóng nhấp nhô, xuồng cột ken nhau, bồng bềnh trên mặt nước, dưới ánh trăng rằm sáng tỏ. Cùng nhau trà nước trò chuyện, tôi lấy kèn harmonica và sáo trúc ra thổi để giải khuây. Mùa nước, tiếng sáo trúc vang xa, lan tỏa trong không gian thật lãng mạn. Anh Sáu Thượng Phó bí thư huyện ủy bơi xuồng lại nói vói tôi: “Đồng chí có khiếu văn nghệ, sáng mai đưa đồng chí về đoàn văn công tỉnh, đoàn vừa mới thành lập đang cần người như đồng chí”. Tôi nói: “Đồng chí điều tôi đi đâu tôi cũng xin chấp hành”.

Vậy là tôi được ở đoàn văn công tỉnh. Dịp về Hồng Ngự phục vụ, tôi tranh thủ ghé thăm nhà. Các đồng chí địa phương đến thăm, nhắc lại những câu nói của má khi tiễn tôi thoát li, cả chị Ba cũng nhắc lại lời má khi tôi đã đi rồi: “Tao nói để củng cố lòng tao và mầy, chớ hàng đêm tao nhớ tới nó, tao khóc thầm đâu dám cho mầy biết. Ngày nó ra đi, tao nhìn theo mà đứt từng đoạn ruột”. Má nói rồi lại cười vui với mọi người. Anh Bảy Phấn nói tôi rất khâm phục má Ba, ít có bà má nào như má Ba.

Tôi kể thêm đức tính của tía má tôi. Sau khi cách mạng bắt và xử tử hình tên Vuông đầu sỏ bọn cướp đã giết tía tôi. Tết Vuông chết nhưng cũng còn nhiều tên cướp khác trong đó có tên Ba Phố.

Ở xóm này có các trại cất cặp mé sông Sở Thượng, chiều chiều mọi người tập họp lại ngồi chơi nhìn sông, nhìn nước nói đủ thứ chuyện trên đời. Trong đó có ông Ba Lạc đầu bạc ở xóm, ông chỉ tên Phố nói với tôi và anh Ba Tú-anh rễ tôi-“Ba Phố giết tía mầy chết hồi đó”. Ông đã nói nhiều lần như vậy. Tên Phố xanh máu mặt: “Ông đừng nói chơi chớ, thằng Sến nó giết tôi à!”. Ông Ba Lạc: “Tao nói thiệt chớ đâu nói chơi”. Sau khi tía tôi chết, gia đình tôi đều biết Ba Phố là một trong những tên đã giết tía tôi.

Năm 1933, tôi là tiểu đội trưởng du kích, cũng là liên đội trưởng du kích tập trung, cón anh rễ là ủy viên kinh tài, ủy viên công an xã có súng ngắn. Lúc này tên tên Phố cũng tái diễn đi ăn trộm, bao đêm đi rình mò để lấy ghe xuồng của người dân. Nhiều lần anh rễ và du kích bàn với tôi phải khử tên Phố vừa ngăn chặn trộm vừa trả thù cho tía tôi.

Bắn nó dễ ợt bất cứ khi nào rồi đưa chứng cứ trộm quả tang, ghép nó vào tội ngoan cố, chạy để tẩu thoát. Nhưng nhớ lời má khuyên trước đây: Tía chết rồi, mình làm gì, tía cũng không thể sống lại được. Thôi để anh em mình xin ý má lần cuối, anh rễ nói: “Chắc chắn là má không đồng ý. Em không khử nó, anh sẽ làm thay”. Nghe qua tôi hơi xiêu lòng.

Đêm nọ, tôi đi tuần tra cùng ba du kích và anh rễ. Sao mỗi bước đi thấy nặng nề, đầu óc cứ nghĩ đến cái chết đau đớn của tía tôi, càng thúc giục đi tìm Ba Phố. Tinh huống lại tao ngộ nhau, gặp Ba Phố đang xốc cây sào, rồi cột dây xuồng cặp mé sông. Đây rồi! Mầy tự dẫn xác đến, ba khẩu súng trường lên đạn, ngón tay lòn qua vòng cò súng, nòng chĩa thẳng ngay ngực tên Phố . Anh rễ cũng lòn tay qua vòng khẩu ru-lô kê ngay trán tên Phố. Chờ anh rễ đếm ba tiếng là siết cò.

Tay chân tôi lúc bấy giờ bủn rủn bời rời, trống ngực đập thình thịch nghĩ đến cái chết của tía tôi, đồng thơi xen lẫn hình ảnh vợ con tên Phố đầu trắng khăn tang kêu khóc cứ chập chờn trước mắt tôi. Không được! Không được!

Lời của má trước đây như mệnh lệnh đối với tôi lúc này. Tiếng của anh rễ đếm một…hai…Tôi nói: “Hãy dừng lại, chấp hành mệnh lệnh của má”. Tôi vừa nói vừa đở các họng súng lên, tay nọ ghì tay anh rễ lại. Anh rễ nói: “Được rồi! Má đã chiến thắng!”. Ba Vẹn du kích nói: “ Không còn cơ hội nào để trả thù cho bác Ba nữa rồi!”. “ Phải vĩnh viễn không còn thù hận nữa”. Tôi nói.

Anh em tôi không khử tên Phố, nhưng Ba Phố cũng bị trời hại bị trúng gió chết bất đắc kỳ tử.

 

4.Đất nước hòa bình thống nhất, các anh đi tập kết ra Bắc trở về như anh Sáu Trước, anh Mười Lung, anh Hai Long, anh Tư Sấm và nhiều anh khác đến thăm hỏi má. Tôi kể má bị bịnh huyết trắng đã qua đời năm Mậu Thân, không có mặt tôi, lúc đó tôi ở đoàn văn công tỉnh, chuẩn bị chương trình văn nghệ cho tết nguyên đán. Các anh nghe qua ai cũng bồi hồi thương tiếc:“Tội nghiệp má, mấy năm chiến tranh má cực khổ, đến ngày hòa bình má không được hưởng, khó kiếm được bà má nào như má Ba. Mầy làm báo công để nhà nước tri ân, khen thưởng cho má”. Tôi có hứa nhưng không hiểu chánh sách khen thưởng những người đã qua đời, lại không tìm hiểu hỏi thăm, rồi thời gian trôi qua, tôi lãng quên luôn.

Má ơi! Hôm nay con hiểu ra và được biết những người được nhà nước khen thưởng, công lao của họ không hơn má, vì họ có làm báo công, còn má con không làm báo công, cái lỗi này là do con!

Nhắc đến đây, con còn nhớ những câu vàng ngọc của má nói với các bà ở chòm xóm: “Tôi già yếu rồi muốn thấy mặt con dâu út, mà không dám nói với con, sợ ảnh hưởng công tác của nó”. Mấy lần về phép, nghe bà con kể lại: Trong xóm cũng có người thương, họ thường tới lui với má tôi. Tôi nói: “ Sắp hòa bình rồi má ơi, lúc đó con sẽ cưới vợ, mặc sức má ẵm bồng cháu nội”. “Con nói sắp hòa bình nào ngờ tình hình mỏng như lá lúa, còn má thấy nó dầy như da trâu vậy. Chắc má không thấy được con dâu út”. Tôi cười vã lã an ủi má tôi.

Hai thời kỳ kháng chiến, khu đất tôi cây cối rậm rạp, nào là sao, xoài, ổi, tre, cây duối và dang tây…địa hình rất tốt, nên nhiều cơ quan đến ở như Trường quân chính phân liên khu Nam bộ, Trường quân chính tỉnh, Binh công xưởng Nam bộ, bào chế tỉnh, Công an Nam bộ, Công an tỉnh, Tỉnh đội và Ban tham mưu tỉnh đội…Mỗi lần Tây bố là nó đốt cơ quan cháy sạch, cây cối cũng cháy nhiều. Ngoài ra, má tôi hiến cho cách mạng sao, dang tây rất nhiều để làm cản, ngăn tàu giặc và xây cất cơ quan. Thời chống Mỹ, gia đình tôi nhường nhà cho huyện ủy Hồng Ngự đóng, lúc này, anh Ba Trọng làm bí thư. Mỹ ngụy đánh lên, mọi người dỡ nhà đem ra ngoài nên không bị cháy. Còn nhà tôi không dỡ vì huyện ủy đang ở. Giặc đổ quân sau hè, đánh úp ra, huyện ủy chạy khỏi để lại tài liệu, súng` ống, chúng đốt nhà tôi, cả chỏng giường, tất cả đều cháy rụi! Của cải cây cối bị thiệt hại từ đời chống Pháp đến chống Mỹ không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng đến hòa bình, gia đình tôi tuy nghèo nhưng không hề đòi hỏi nhà nước đền bù, kể cả tiền má tôi bán heo mua công trái kháng chiến cũng không lấy lại.

Nhờ đức tính này mà các anh các chị bị Tây lùa ra ở vùng giặc bị chúng kềm kẹp, đầu độc khắc nghiệt, thực hiện âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh vô cùng tàn bạo, vậy mà anh chị tôi không ai sa ngã, không ai cộng tác với giặc và gây nợ máu với nhân dân.

Đây cũng là đức tính của tía má tôi thấm vào máu vào tim cho nên con cháu biết định hướng, làm những điều phải, tránh gian tà, đặc biệt là được đảng, cách mạng soi đường, nên mới hưởng được diễm phúc hôm nay. Má ơi! Hồi đó đâu có luật pháp, đâu có quy định nếp sống mới gì, sao má dạy con tốt quá vậy! Phải rồi, má vốn có sẵn nếp sống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Má có khiếu văn nghệ và rất thích văn nghệ, má biết đàn tranh do cậu Năm dạy, má biết ca Tứ đại oán, dân ca, hò vè. Trong các buổi đại hội, nhóm họp, cưới hỏi, giỗ có má là không khí văn nghệ sôi nổi hẳn lên. Riết thành quen, khi có bộ đội về, ngày hội là người ta đề nghị má ca, nhất là ca cảnh Em bé bán chè. Ở xóm có bà Tám Mót trạc tuổi má đóng vai Giải phóng quân, má đóng em bé bán chè. Má cất giọng rao: “Ai chè đậu nước dừa…” lãnh lót. Ai nấy đều vỗ tay tán thưởng. Bài ca Em bé bán chè và bài Cấy lúa là hai bài ruột của má và cũng là tiết mục được mọi người ưa thích.

Đoàn văn công tỉnh hai lần đến nhà tôi ăn cơm, ai cũng quen biết má tôi. Đoàn văn công Khu 8 về diễn ở Cái Sách lên Mỹ Cân, gia đình tôi và gia đình Việt Thủy đến liên hoan và văn nghệ nhẹ với đoàn. Má tôi ca được các đồng chí khen ngợi, nhất là Minh Phượng khen má già rồi mà có giọng hát quá đẹp, diễn xuất như chuyên nghiệp. Thương má quá!

Đã hiểu tính má tôi, mọi người không ngần ngại, khi buồn vui thường đề nghị má má tôi ca, nhất là những anh chị ở trong nhà như vợ chồng anh Mười Thu, vợ chồng anh Thạch Ba. Khó tính như anh kỹ sư Nhâm lại thường xuyên đề nghị má tôi ca và má tôi sẵn sàng, không bao giờ làm cho ai thất vọng.

Má ơi! Bài hồi ký này là điếu văn, là hoa đăng, là nén hương con thành kính dâng lên má, xin xá tội và thứ lỗi cho con! Ước nguyện của con qua mấy dòng hồi ký này nhằm để lại cho con cháu biết và hiểu má, để học và làm theo tấm gương sáng ngời của má!

 
     
  Nguyễn Huỳnh Hiếu ( VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật








  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)






  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |