Thứ Hai, ngày 21 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  26/08/2013  
  Những người B trụ  
      Năm 1951 tỉnh Sa Đéc sát nhập với Long Châu Tiền thành tỉnh Long Châu Sa, tôi là Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh. Vào tháng 7/1953 tôi về Mỹ Ngãi chuẩn bị để sanh con, được Ban Chấp hành phân công phụ trách Ban Chấp hành phụ nữ xã Mỹ Ngãi cho thuận tiện. Sau khi sanh con đầu lòng được tám tháng, tôi tổ chức lớp bình dân học vụ ở kinh Ông Kho - song song với kinh Nguyễn Văn Tiếp A, cho các em học sinh trong vùng giải phóng và con em ngoài vùng địch chiếm đóng ở Mỹ Ngãi, Hòa An. Tôi nhớ trong số học sinh theo học thời kỳ này có bốn em sau này trở thành cán bộ cách mạng, trong đó có Phan Khôi, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Lớp có ba giáo viên đứng lớp là: Anh Gô, cô Lệ (dạy các lớp 1,2,3) và tôi dạy lớp cao hơn. Đình chiến, anh Gô về Tiền Giang, cô Lệ về miền Tây đi tập kết, chỉ còn một mình tôi dạy tất cả các lớp nầy.  
 
 


 

Bà Lê Thị Huệ kể, Phạm Thị Toán ghi

 

            Năm 1951 tỉnh Sa Đéc sát nhập với Long Châu Tiền thành tỉnh Long Châu Sa, tôi là Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh. Vào tháng 7/1953 tôi về Mỹ Ngãi chuẩn bị để sanh con, được Ban Chấp hành phân công phụ trách Ban Chấp hành phụ nữ xã Mỹ Ngãi cho thuận tiện. Sau khi sanh con đầu lòng được tám tháng, tôi tổ chức lớp bình dân học vụ ở kinh Ông Kho - song song với kinh Nguyễn Văn Tiếp A, cho các em học sinh trong vùng giải phóng và con em ngoài vùng địch chiếm đóng ở Mỹ Ngãi, Hòa An. Tôi nhớ trong số học sinh theo học thời kỳ này có bốn em sau này trở thành cán bộ cách mạng, trong đó có Phan Khôi, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Lớp có ba giáo viên đứng lớp là: Anh Gô, cô Lệ (dạy các lớp 1,2,3) và tôi dạy lớp cao hơn. Đình chiến, anh Gô về Tiền Giang, cô Lệ về miền Tây đi tập kết, chỉ còn một mình tôi dạy tất cả các lớp nầy.

            Gần tới ngày ký Hiệp định, tin chiến thắng dồn dập bay về. Tất thảy mọi người dân, cán bộ, bộ đội đều vui mừng khôn xiết. Khi Hiệp định chính thức được ký kết, tôi đang dạy học ở Mỹ Ngãi cũng xin nghỉ mười ngày, ẵm con ra Cao Lãnh mừng chiến thắng. Lúc ấy chồng tôi - ông Năm Hựu phụ trách thông tin văn hóa đang tuyên truyền chiến thắng của ta ngoài quận lỵ Cao Lãnh, bởi ban đầu tỉnh dự kiến ông đi tập kết nên cho ra công khai.

Không khí trong những ngày này không thể tưởng tượng nổi. Trên bờ tấp nập xe cộ - xe jeep của quân đội, xe đạp của dân, không có các loại xe máy như bây giờ, dưới sông là xuồng ghe - đa phần là xuồng bơi tay, ít xuồng máy của dân, chủ yếu là thân nhân đi tiễn đưa bộ đội. Dân, bộ đội, cán bộ ở các nơi nườm nượp kéo về Cao Lãnh rất đông, vô ở ngay trong các nhà dân. Tình quân dân thể hiện rất rõ - gắn bó mật thiết, keo sơn và dân rất thương bộ đội. Nhân dân không những nuôi các anh bộ đội mà còn nuôi cả thân nhân của họ, mặt dù cuộc sống bà con cũng không khá giả gì. Cứ mỗi buổi chiều, bộ đội tập trung các cháu lại, dạy những bài hát rất vui nhộn như: Kết đoàn, Mùa hoa nở…. Không còn kẻ địch, không còn chiến tranh và bom đạn, chết chóc. Dân thì chỉ biết hôm qua là chiến tranh, nay đã hòa bình nên rất sung sướng, hồ hởi.

            Đang những ngày vui chiến thắng ấy, do chưa bị lộ, hai vợ chồng tôi được lịnh ở lại, không đi tập kết nữa. Trong khi anh em lần lượt xuống tàu vui vẻ, tôi vội thu dọn đồ đạc trở về kinh Ông Kho - căn cứ kháng chiến của ta lúc ấy, mà không thể ra đưa tiễn anh em được dù trong lòng rất muốn. Chấm dứt một trăm ngày tập kết, Pháp trở lại, bọn ngụy quân đóng đồn Cầu Xây và Thống Linh, lớp học giải tán. Dọc kinh nầy hầu như nhà nào cũng nấu rượu, nuôi heo. Để có một cái nghề sinh sống, hoạt động, tôi cũng đắp lò, học bà con nghề nấu rượu, làm bánh bán. Ở đây chúng tôi được học tập rất kỹ, muốn thuộc lòng về đường lối cách mạng miền Nam và nội dung của Hiệp định Genève. Có sự chuyển hướng trong đấu tranh cách mạng phù hợp với tình hình. Lúc trước, ta chủ yếu đấu tranh võ trang thì bây giờ chỉ được đấu tranh chính trị hòa bình. Chi bộ đả thông nhưng tư tưởng anh em rất căng.

Tuy dân không nghĩ nhưng ta khẳng định: Mỹ đã nhảy vào nhất định chúng sẽ lật lọng. Đường lối của Đảng chỉ thị chúng ta phải nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định, không cho địch có cái cớ để đàn áp, bắt bớ những cán bộ kháng chiến. Đường lối của Đảng thì chúng tôi bắt buộc phải thi hành nhưng trên thực tế, nhiều đảng viên, cán bộ ở lại rất băn khoăn, lo lắng: Địch ngoài “sáng”, ta ở trong “tối”, nếu ta chỉ đấu tranh chính trị thôi thì liệu có thắng nổi không?!. Tổ chức Đảng và đoàn thanh niên vẫn còn nhưng lui vào hoạt động bí mật. Các tổ chức mặt trận, đoàn thể buộc phải giải thể. Tỉnh chỉ giữ lại một số bộ đội, tập trung dồn về “ruột” Đồng Tháp Mười của tỉnh. Ban Chấp hành phụ nữ xã Mỹ Ngãi cũng giải thể, tôi phụ trách phụ nữ xã (không còn Ban Chấp hành như trước).

Dù không còn hệ thống tổ chức từ tỉnh xuống xã, tên không còn nhưng người vẫn còn. Tôi vẫn tiếp tục hướng dẫn cho hội viên phụ nữ của xã học tập, củng cố tổ chức. Những hội viên phụ nữ sau này đã trở thành nòng cốt cho phong trào phụ nữ ở địa phương. Để phù hợp với tình hình lúc bấy giờ, chúng tôi hướng dẫn cho các chị em thành lập những tổ chức biến tướng, hợp pháp và bán hợp pháp với nhiều tên gọi. Ở xã Mỹ Ngãi thành lập ba loại tổ phụ nữ: Tổ thăm đau, nuôi đẻ; tổ vạn cấy (cấy vần công) và tổ nữ công gia chánh (tỉnh Sa Đéc địch tổ chức Hội Phụ nữ Việt Nam). Các tổ chức biến tướng vừa giúp nhau chăm lo cuộc sống, vừa củng cố niềm tin của dân đối với Đảng và Bác Hồ. Khi cần thì hướng dẫn quần chúng đấu tranh chống địch. Những người chưa bị lộ thì ra hoạt động hợp pháp như trường hợp các chị Năm Mai, Bảy Sương đưa đi học cô đỡ tại bệnh viện Cao Lãnh để địch cấp chứng chỉ cho hành nghề sau khi tốt nghiệp, tạo vỏ bọc chắc chắn để hoạt động sau này. Ngoài ba tổ chức phụ nữ trên, cán bộ đảng viên thực hiện nắm quần chúng với phương châm bắt rễ, sâu chuỗi. Cứ một đảng viên nắm ba quần chúng cảm tình, một quần chúng cảm tình nắm ba quần chúng tốt. Như vậy, một đảng viên có thể nắm được chín quần chúng tốt, hạn chế đến mức cao nhứt hoạt động bị lộ.

Lúc nầy Tỉnh ủy Sa Đéc thành lập Ban Phụ vận Tỉnh, phân công đồng chí Võ Thị Việt - trưởng ban, phụ trách huyện Châu Thành, đồng chí Nguyễn Thị Liên, phụ trách Sa Đéc và tôi phụ trách Cao Lãnh. Không còn Ban Chấp hành, hoạt động của phụ nữ do Ban Phụ vận nắm, đặt dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy. Năm 1957 tôi về xã Hòa An hoạt động và học may ở tiệm Nhật Tân để tạo thế hợp pháp. Thời kỳ này địch đã bắt đầu khủng bố cách mạng. Nổi bật là vụ giết hại hơn bốn mươi đảng viên và quần chúng ở xã Bình Thành huyện Thanh Bình, giết bỏ bao bố thả trôi sông đồng chí Mai Văn Khải là chi ủy viên xã Mỹ Ngãi, thành phố Cao Lãnh hiện nay. Người dân hoang mang, lo sợ. Chúng tôi vận động nhân dân hãy tin vào Đảng, vào cách mạng, vận động bà con làm đơn, cử người đi Tân Châu gặp Ủy hội Quốc tế tố cáo địch đã vi phạm Hiệp định.

            Năm 1959 cơ sở của ta trong đồn địch báo ra, tôi đã bị lộ nên tránh đi để khỏi bị địch bắt. Do vậy tôi phải thoát ly luôn.  Tôi đi vô Tỉnh ủy ở hậu Thường Phước, được Tỉnh ủy cử tham gia lớp học sơ cấp chính trị của Khu ủy mở. Thời gian học một tháng. Lớp học có cái tên rất lạ: ÚT LỌP. Thơ từ ở các nơi gởi cho lớp chỉ cần ghi hai từ ÚT LỌP là thư tới tận nơi. Lớp học tổ chức vào mùa nước, học viên ngồi học ở trên xuồng và có mười học viên. Để đảm bảo bí mật, lớp được chia thành hai tổ, mỗi tổ năm người. Tổ 1 do anh Bảy Hạo - dạy ở Trường Đảng tỉnh làm tổ trưởng. Tổ 2 do anh Tám Hưng là giảng viên, lớp trưởng kiêm tổ trưởng. Hai tổ cách nhau bằng một tấm vải che đảm bảo bí mật cho mọi người, không ai biết ai, bởi anh chị em toàn dân hoạt động hợp pháp. Giáo viên giảng bài ngồi giữa tấm vải che hai tổ. Lớp học rất nghiêm túc, học xong mỗi phần đều có kiểm tra bài. Khi kiểm tra thì anh Tám Hưng lớp trưởng lại lụi hụi nấu cơm cho cả lớp ăn luôn. Một hôm đang học thì nghe súng đạn ầm ầm ở gần đó, sau mới biết là trận đánh Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung, khiến tất cả các xuồng bỏ vải che tốc chạy tránh đạn. Thật mắc cười, ai cũng thấy mặt nhau. Anh em sau đó gom lại cười xòa, đùa nhau: “Trời bất dung gian đảng”.

Sau khi kết thúc khóa học, chúng tôi về tỉnh được Tỉnh ủy Kiến phong chủ trương mở các lớp chính trị bồi dưỡng cán bộ Đảng ở cơ sở và cán bộ các đoàn thể. Trường Đảng dạy đảng viên đặt tên là Tư Quyến. Còn trường cho các cán bộ đoàn thể đặt tên Năm Luận. Hai tên: QUYẾN - LUẬN của hai trường nói lái từ HUẤN LUYỆN. Không biết bộ máy điệp báo của địch có khi nào nghe tới sự tồn tại của những cái tên đặc biệt này không, có thể nào đoán ra được đó là trung tâm huấn luyện chính trị nổi tiếng một thời của tỉnh Kiến Phong hay không, mà nhờ nó chúng tôi đã huấn luyện không biết bao nhiêu cán bộ, đảng viên. Đúng là sự “thiên biến vạn hóa” của cách mạng.

            Vào ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, các tổ chức đoàn thể bắt đầu được khôi phục lại. Nhưng ở Đồng Tháp (lúc ấy là Kiến Phong), trước đó một năm, từ sau trận đánh Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung và sau ngày 25/12/1959 chiếm đồn Vinh Huê, giải phóng xã Thanh Mỹ, huyện Mỹ An, Tỉnh ủy nhận định sớm được tình hình do vùng giải phóng được mở rộng, chủ trương cho khôi phục lại các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông dân đã giải tán, cử ba người: tôi, anh Năm Thảnh và anh Mười Ái ngồi viết điều lệ cho các tổ chức đoàn thể chuẩn bị hoạt động trở lại (tổ chức lâm thời).

            Cuộc chiến đấu của những người ở lại vô cùng cam go, ác liệt. Thế nhưng chúng tôi, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vững vàng vượt qua bao khó khăn, gian khổ. Hai mươi mốt năm các anh xuống tàu ra Bắc, mỗi năm là mười hai tháng, mỗi tháng là ba mươi ngày và mỗi ngày là hai mươi bốn giờ……Không phải từng giờ, mà là từng phút, từng giây, chúng tôi đã phải gồng mình đối phó với bao thủ đoạn hèn hạ của kẻ thù, để mà tồn tại, để tiếp tục hoạt động. Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, có nhiều và rất nhiều chiến sĩ cách mạng đã ngã xuống, chưa kịp nhìn thấy lá cờ đỏ tung bay phần phật trong ngày 30/4/1975 bởi cái thời gian hai mươi năm nó dài quá. Nói như vậy mới thấy cái giá của hòa bình thật không nhỏ….

Và những người ở lại, những người B trụ, chúng tôi luôn tự hào và kiêu hãnh đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, vì lý tưởng của cách mạng, để hạnh phúc được nở hoa trên đất nước này.

 


 


 
     
  Phạm Thị Toán ( bao VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |