Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  26/08/2013  
  NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN  
  Sinh ra ở một vùng quê nghèo thuộc xã Mỹ Hoà (nay là xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười). Tuổi thơ của tôi lớn lên trong cảnh bom rơi, đạn lạc, chứng kiến nhiều hoàn cảnh gia đình phải ly tán do chiến tranh, mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha… Gia đình tôi cũng thấm thía cảnh thiếu trước hụt sau, làm thuê cuốc mướn quanh năm mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Tất cả là do sự tàn bạo của thực dân Pháp và bè lũ tay sai gây ra cho đồng bào mình. Năm mười tám tuổi, cũng như bao thanh niên lúc bấy giờ, tôi thoát ly gia đình đi theo cách mạng. Năm 1949 tôi tình nguyện tham gia vào địa phương quân huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), một năm sau, tôi được vào bộ đội chính quy thuộc tiểu đoàn 309 và thật vinh dự biết bao, cũng trong năm này, tôi được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.  
 
 

                    

Trần Văn Khá - Chiến sĩ Tiểu đoàn 309 kể

Thế Thưởng ghi

 

Sinh ra ở một vùng quê nghèo thuộc xã Mỹ Hoà (nay là xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười). Tuổi thơ của tôi lớn lên trong cảnh bom rơi, đạn lạc, chứng kiến nhiều hoàn cảnh gia đình phải ly tán do chiến tranh, mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha… Gia đình tôi cũng thấm thía cảnh thiếu trước hụt sau, làm thuê cuốc mướn quanh năm mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Tất cả là do sự tàn bạo của thực dân Pháp và bè lũ tay sai gây ra cho đồng bào mình. Năm mười tám tuổi, cũng như bao thanh niên lúc bấy giờ, tôi thoát ly gia đình đi theo cách mạng. Năm 1949 tôi tình nguyện tham gia vào địa phương quân huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), một năm sau, tôi được vào bộ đội chính quy thuộc tiểu đoàn 309 và thật vinh dự biết bao, cũng trong năm này, tôi được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực hiện Hiệp định Giơnèvơ (1954) về lập lại hoà bình ở Đông Dương, đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền. Miền Bắc đến vĩ tuyến 17 được hoàn toàn độc lập, miền Nam còn thuộc quyền quản lý của Pháp. Hai bên ngừng chiến, quân đội mỗi bên phải tập kết về vùng của mình quản lý. Chúng tôi được chọn tập kết ra Bắc, một số người được chọn trụ lại quê hương hoạt động bí mật với nhiệm vụ giúp người dân làm ăn và giúp thanh niên địa phương giác ngộ cách mạng, đồng thời xây dựng các cơ sở bí mật để nuôi chứa cán bộ cách mạng sau này. Lúc này tôi là Tiểu đội trưởng, trước khi đi, chúng tôi được cấp trên quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, vấn đề tập kết bộ đội và những điểm căn bản của Hiệp định. Phổ biến những quy định phải thực hiện khi đóng quân, chế độ ăn ở của anh em trong thời gian đóng quân chờ lên tàu. Trước mắt, mỗi anh em chúng tôi được phát cho một khúc vải “xe lửa” trắng, tự nhuộm bằng vỏ cây nhúng bùn thành màu xám để thống nhất màu và nhìn có vẻ “chính quy” hơn. Khi lên tàu, tụi Pháp gọi mỉa mai chúng tôi là “con hùm xám nó đi ra Bắc”. Nón đội đầu thì xin tre của nhân dân đan thành mũ nan, tiểu đội nào đan cho tiểu đội đó, vải bọc nón cũng được nhuộm xám.

Tiểu đoàn 309 đóng quân rải rác từ Mỹ An dài xuống huyện Cái Bè (Mỹ Tho) để chờ ngày tập kết. Chúng tôi được bố trí ở trong nhà dân, một số đóng ở các căn cứ thời kỳ chín năm. Nhà cửa của bà con nhân dân vùng nầy phần lớn bị bom đạn tàn phá hư hại trong những năm đánh Pháp, anh em cùng nhau đốn cây giúp nhân dân sửa chữa lại nhà, bắc cầu cho dân đi lại thuận tiện. Bộ đội chúng tôi được cấp gạo và muối, còn thức ăn thì tự lo thêm, bà con nhân dân thương mến nên có thức ăn gì bà con cũng đem đến cho, tuy đơn sơ nhưng ấm áp nghĩa tình quân – dân. Trong thời gian nầy, anh em chiến sĩ được người thân từ các nơi về đây động viên, thăm hỏi, đưa tiễn rất đông vui, xuồng ghe bơi tấp nập. Những gia đình có điều kiện thì đến thăm con em mình nhiều lần. Lần nào đến cũng đem theo lương thực, thực phẩm nào là gà, vịt, gạo nếp đến đủ loại bánh, trái cho con em mình. Anh em lấy chia đều cho nhau, hôm nay người này, ngày mai đến lượt người khác, vì vậy mà bữa ăn của chúng tôi cũng được cải thiện nhiều. Nhà cửa của bà con địa phương tuy chật hẹp nhưng nhân dân luôn vui vẻ tiếp đón. Bà con thương yêu, thông cảm với cán bộ, chiến sĩ đi chiến đấu xa gia đình bao năm, nay đoàn tụ với người thân chẳng mấy chốc lại phải lên đường. Những ai không có gia đình đến thăm thì phụ tiếp đón các gia đình của anh em cùng đơn vị với mình. Chúng tôi được nghe nhân dân nói nhiều về cách mạng, nhờ có cách mạng mà cuộc sống người dân các vùng giải phóng hoàn toàn đổi mới. Họ mong muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, cách mạng thành công để có cuộc sống tự do, cơm no, áo ấm, hạnh phúc đời đời. Chúng tôi đem hết hiểu biết của mình nói cho dân nghe về Đảng, về Bác Hồ, về niềm tin thắng lợi của cách mạng, về sự thống nhất nước nhà. Miền Bắc đã được hoà bình, miền Nam còn tạm thời thuộc quyền quản lý của địch, nên bà con phần nào cũng lo lắng chưa yên, không biết rồi đây khi bộ đội mình đi tình hình sẽ trở nên thế nào. Trong những lúc như thế, mới thấy hết được tấm lòng khát khao cháy bỏng của bà con, nhân dân mình đối với nền độc lập, tự do của dân tộc. Riêng đối với chúng tôi, đây là khoảng thời gian thoải mái và vui vẻ nhứt, so với những năm tháng chiến đấu gian khổ trong bưng biền, ăn ngủ trong hầm bí mật, có những lúc phải di chuyển liên tục hết vùng này sang vùng khác với biết bao đói khát, bệnh tật. Nay được trở về với mái nhà, với mảnh ruộng, miếng vườn thân yêu, với hình ảnh thân thương của những người mẹ, người chị nên lòng ai cũng bùi ngùi xúc động.

Đến ngày, chúng tôi tập trung ra Mỹ An để xuống đò máy di chuyển ra bến bắc Cao Lãnh. Trên đường đi, nhân dân tổ chức đưa tiễn thành từng cụm hai bên bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp với phất phới cờ đỏ, băng rôn, khẩu hiệu. Vùng này là nơi địch chiếm giữ từ cuối năm 1951, nay chúng rút hết đồn bót trên một tuyến dài hàng chục kilômét để ta tiếp quản. Chúng tôi vẫy tay chào nhân dân mà trong lòng nao nao một cảm giác khó tả. Riêng tôi, lúc này niềm vui xen lẫn nỗi buồn khiến tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến mặc dù đã được quán triệt tư tưởng trước khi đi. Vui vì từ trước đến nay chưa được đi đâu xa, chưa biết miền Bắc đang xây dựng xã hội chủ nghĩa như thế nào, nghe nói ra miền Bắc là có cơ hội được gặp Bác Hồ. Buồn, chúng tôi có chung cảm xúc, vì mỗi người tới đưa tiễn, khi chia tay, chúng tôi không dám nhìn lâu, nhìn kỹ, vào những gương mặt người thân, kể cả các em nhỏ đứng trên bờ đang xúc động nghẹn ngào và đang khóc lúc sắp chia xa các anh. Mấy hôm trước, ba mẹ tôi đến thăm, nhìn mẹ khóc mà tôi đau lòng. Vì mẹ thấy tôi lúc này gầy như que củi, đen như củ súng, nhìn vào là thấy sự tàn phá của chiến tranh còn in dấu trên người tôi. Mẹ tôi vì không muốn xa con nên bảo tôi tình nguyện ở lại quê nhà phục vụ, nhưng tôi trả lời: “Anh em ai cũng ra đi con không thể vì bản thân mà ở lại, vả lại, chuyện đi hay ở là do tổ chức sắp xếp lựa chọn, đi hay ở cũng đều là nghĩa vụ với quê hương đất nước”. Chiều hôm đó, lại nghe ba tôi nói: “Ba nghe con nói với má con sáng nay như vậy là đúng, má con vì thương con mà muốn con ở lại nhưng ba nghĩ, nếu đã lên lưng cọp thì phải bám chặt lấy nó, khi nào nó chạy đuối sức thì con giết nó còn khi nó đương sức mà con xuống thì nó giết con”. Ông còn nói với tôi nhiều điều, tôi không nhớ hết và lúc đó cũng chưa hiểu nhiều lắm nhưng có một điều tôi biết chắc chắn rằng, ba tôi cũng muốn tôi ra đi, điều đó đã giúp tôi có thêm động lực và ý chí để lên đường và cũng không ngờ rằng, đó là lần cuối cùng tôi được gặp ông.

Khi đến Cao Lãnh, từ đò máy nhìn lên bờ, cờ xí đỏ rực, không khí đưa tiễn rất náo nhiệt. Đồng bào các nơi đổ về đây tiễn đưa người thân xuống tàu ra Bắc. Hình ảnh các chị, các mẹ trong những bộ đồ bà ba tươm tất, tóc búi gọn gàng, khoác lên vai các anh những chiếc khăn rằn kỷ niệm, đưa hai ngón tay lên vẫy chào hứa hẹn sau hai năm rồi ta sẽ gặp ta làm ai cũng xúc động, nghẹn ngào.

Chúng tôi di chuyển sang tàu Pháp, có chín chiếc, một chiếc “chuồng cu”, tám chiếc còn lại không có mui che mọi người ngồi ngoài trời vì chủ trương của ta là không để cho họ che kín mui khi tàu chạy. Tàu chạy một ngày một đêm thì đến tàu Ba Lan đang neo đậu ngoài Vũng Tàu. Trên tàu đưa thang dây xuống, lần lượt 2 người được rút lên tàu. Súng, đạn thì bỏ vào cần xé cẩu lên tàu. Chuyện ăn uống ở trên tàu cũng có cháo lạt, mấy chạo cơm ai ăn được gì thì ăn, người khoẻ đi lấy cho người yếu ăn. Tàu chúng tôi có phục vụ chiếu phim màn ảnh rộng, chiếu thẳng lên thân tàu, tối đến anh em ngồi xem rất đông.

Lênh đênh trên biển hơn ba ngày ba đêm thì đến Sầm Sơn, khi thấy đất liền ai nấy đều reo hò mừng rỡ. Vì tàu có trọng tải quá lớn nên không vào sát mà đậu cách xa bờ. Nhân dân Thanh Hóa đưa những chiếc thuyền thúng, thuyền đánh cá ra tận tàu lớn đón chúng tôi, đến cách bờ vài trăm mét thì lên cầu phao dẫn vào bờ. Chúng tôi được bố trí ở tạm trong những cái lán làm tạm bằng tre nứa, lợp lá. Lán không xa biển, nên gió lạnh từ biển thổi vào làm chúng tôi, vốn chỉ quen với nắng nóng của miền Nam, lạnh càng thêm lạnh. Lạnh vì gió mùa đông bắc, lạnh vì nhớ nhà, lạnh vì nỗi bơ vơ không người thân thích. Nhân dân tổ chức đón tiếp cán bộ, chiến sĩ, con em miền Nam ra rất chu đáo, cách một đoạn để sẵn một nồi nước chè xanh thơm lừng để anh em uống. Hằng ngày, tại khu vực đóng trại của chúng tôi, người ta đều có tổ chức sinh hoạt rất vui, có múa hát, biểu diễn văn nghệ, hát bóng (chiếu phim)… Có lẽ nhờ thế mà chúng tôi vơi được nỗi nhớ nhà, đó cũng là hành trình đầu tiên trong những hành trình gian khó của cuộc đời cách mạng.

Những năm tháng lao động và học tập trên miền Bắc, kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với tôi đó lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Trong một lần Bác đi công tác về Thanh Hoá, sau khi làm việc, biết có anh em miền Nam đang học tập tại đây, Bác đến tận nơi để thăm hỏi. Chúng tôi được thông báo trước đó ít phút để chuẩn bị đón Bác, ai nấy đều hồi hộp chờ đợi. Được nghe kể nhiều, hôm ấy mới tận mắt chứng kiến Bác bằng xương bằng thịt nên khi vừa nhìn thấy Bác, tất cả đều reo lên và chạy ùa đến bên Bác. Bác bảo anh em ngồi xuống để Bác nói chuyện, rồi Bác nói: “Trung ương đã cử cán bộ về đây giảng cho các chú, có thể sách vở các chú về xem, nghiên cứu, còn bây giờ nói theo sách vở làm sao Bác nói với các chú hết, Trung ương chỉ cho Bác ba mươi phút để gặp các chú”. Sau đó Bác căn dặn chúng tôi: “Các chú học tập ở đây là để sau này về phục vụ nhân dân nên cần phải biết về tập quán sinh hoạt của đồng bào mình ở từng vùng miền. Khi các chú về nông thôn cùng với dân, người ta ăn gì mình ăn nấy, phải có suy nghĩ từng đối tượng mà nói chuyện, người miền xuôi nói chuyện như thế nào, người trung du nói chuyện như thế nào, đồng bào rẻo cao nói chuyện như thế nào”. Bác còn chỉ dạy rất nhiều điều khác như: với đồng bào miền xuôi khi vào nhà phải chào hỏi ai trước, người trung du, người rẻo cao phải chào hỏi ai trước, nói chuyện với phụ lão như thế nào, phụ nữ như thế nào, nông dân như thế nào, thanh niên như thế nào, thiếu niên, nhi đồng như thế nào. Chúng tôi ai cũng hết sức chăm chú lắng nghe Bác nói. Cuối cùng Bác kết luận:“Nếu không phân biệt được những điều đó thì các đồng chí sẽ không làm tốt công tác nhân dân được”. Bằng tất cả lòng kính trọng và ngưỡng mộ của mình, tôi ghi nhớ từng lời Bác căn dặn làm hành trang cho cuộc đời hoạt động cách mạng của mình sau này. May mắn trong số ít người được gặp Bác dù thời gian hết sức ngắn ngủi nhưng những gì Bác nói vẫn còn khắc sâu trong tâm trí tôi đến tận ngày hôm nay.

Năm nay tôi đã 82 tuổi đời, hơn 60 năm tuổi Đảng, một lòng theo cách mạng từ năm 18 tuổi cho đến nay, không giàu có về vật chất nhưng lại sở hữu những ký ức đẹp mà không phải ai cũng có được. Tôi luôn lấy đó là niềm tự hào và răn dạy con cháu mình phải sống tốt, noi theo gương Bác, làm việc có ích cho xã hội và làm việc gì, dù lớn hay nhỏ cũng đều hết sức chú ý đến hậu quả mà mình có thể gây ra cho người khác để không phạm phải sai lầm đáng tiếc. Giờ đây, ngồi ngẫm lại cuộc đời mình, tôi thấy mình hạnh phúc hơn nhiều người, bởi ước mơ được gặp Bác Hồ của tôi đã trở thành hiện thực.

 
     
  Cộng tác viên ( bao VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |