Thứ Hai, ngày 21 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  10/09/2013  
  XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG  
  Năm 1954, cũng như bao đồng chí, đồng đội và con em miền Nam, tôi tạm biệt người thân, gia đình và quê hương để tập kết ra Bắc. Không khí trong ngày tập kết, rồi tiễn đưa thật sôi động mà ít ai có thể quên được. Sau những ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi đã đặt chân lên Sầm Sơn - Thanh Hoá rồi về đóng quân ở xã Hoàng Trinh, huyện Hoàng Hoá, Thanh Hoá. Lúc này, tôi ở Trung đoàn 658, Tiểu đoàn 1. Tại đây, anh em tập trung rèn luyện, lao động và đặc biệt lo chỉnh quân, học tập để theo kịp chương trình huấn luyện của bộ đội miền Bắc, đồng thời học tập cải cách ruộng đất. Đầu năm 1956, chúng tôi được điều về đóng quân ở Thiệu Hoá, Thanh Hoá làm nhiệm vụ đắp đê sông Chu chống lũ lụt, đê được đắp từ bến đò Hậu Hiền chạy dài lên Thọ Xuân và chạy xuống hạ lưu sông. Sau đó, đơn vị tôi chuyển về đóng quân ở Hà Lan, Hà Trung làm nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập quân sự.  
 
 


Đại uý Mai Văn Vàng- Nguyên Thường trực UB Kiểm tra Đảng uỷ quân sự tỉnh Đồng Tháp kể

(Ngô Thị Thuỷ ghi)

 

Năm 1954, cũng như bao đồng chí, đồng đội và con em miền Nam, tôi tạm biệt người thân, gia đình và quê hương để tập kết ra Bắc. Không khí trong ngày tập kết, rồi tiễn đưa thật sôi động mà ít ai có thể quên được. Sau những ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi đã đặt chân lên Sầm Sơn - Thanh Hoá rồi về đóng quân ở xã Hoàng Trinh, huyện Hoàng Hoá, Thanh Hoá. Lúc này, tôi ở Trung đoàn 658, Tiểu đoàn 1. Tại đây, anh em tập trung rèn luyện, lao động và đặc biệt lo chỉnh quân, học tập để theo kịp chương trình huấn luyện của bộ đội miền Bắc, đồng thời học tập cải cách ruộng đất. Đầu năm 1956, chúng tôi được điều về đóng quân ở Thiệu Hoá, Thanh Hoá làm nhiệm vụ đắp đê sông Chu chống lũ lụt, đê được đắp từ bến đò Hậu Hiền chạy dài lên Thọ Xuân và chạy xuống hạ lưu sông. Sau đó, đơn vị tôi chuyển về đóng quân ở Hà Lan, Hà Trung làm nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập quân sự.

Tháng 6 năm 1956, đơn vị về đóng quân ở Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Bình. Vừa học tập quân sự, huấn luyện, xây dựng quân đội. Ngoài ra, làm công tác vận động đồng bào công giáo chống di cư vào Nam. Và vận động sửa sai trong cải cách ruộng đất. Nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì phải làm công tác dân vận mà đối tượng là đồng bào có đạo. Đơn vị chia theo tổ, xin ở trong các nhà tín đồ công giáo để từng bước vận động, thuyết phục, phân tích cho đồng bào công giáo hiểu về tình hình lúc bấy giờ. Lúc đầu người dân e ngại không cho chúng tôi vào nhà và có cả phần khó chịu khi bộ đội đến “quấy rầy”. Song bộ đội vẫn kiên trì, tìm cách tiếp cận các gia đình công giáo bằng việc làm cụ thể như tắm gội, cắt tóc cho các cháu thiếu nhi, giúp dân chặt củi, quét dọn vệ sinh... Qua thời gian ngắn, đồng bào thấy bộ đội lo cho dân nên thông cảm rồi cho ở trong nhà, họ nói “bộ đội của dân lo cho dân”.

Thời gian này, tình hình ở khu vực gần Nhà thờ Bát Trạch rất phức tạp, bọn xấu luôn tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, gieo rắc “ảo tưởng” trong đồng bào công giáo. Chúng đã để tượng hình dạng giống như đang khóc con chiên trong Nhà thờ để vin vào đó nói Chúa đã vào Nam nhằm lôi kéo, tạo ra làn sóng di cư ồ ạt. Trước tình hình đó, cấp trên đã chỉ đạo các biện pháp ngăn chặn, chúng tôi làm nhiệm vụ cũng phải hết sức tế nhị, linh hoạt, nhạy bén. Ngay ngày lễ Công giáo, đồng bào theo đạo tập trung vào Nhà thờ để đấu tranh với ta đòi di cư vào Nam “Cho chúng tôi vào với anh Ba Diệm”. Mình vận động, tuyên truyền nói Chúa ở khắp mọi nơi… kết hợp với biện pháp ngăn chặn là tổ chức trường bắn trên đường đi đến Nhà thờ, dân không đi được phải quay về nhà. Công tác tuyên truyền dần dần thấm sâu và có tác dụng rõ rệt, phần đông đồng bào công giáo nhận thức đúng đắn nên ổn định cuộc sống, an tâm làm ăn.

Đầu năm 1957, đơn vị tôi về Hà Tây để xây dựng Sư đoàn 338. Tới năm 1958, có chủ trương giảm trừ quân bị khoảng hơn 60 vạn quân, một bộ phận ở lại thành lập lữ đoàn 338 (thường trực được huấn luyện sẵn sàng chiến đấu), một bộ phận đi sản xuất tại các nông trường sông Bôi, Ba Vì, Xuân Mai… Tôi được điều về nông trường Ba Vì để làm kinh tế, tham gia chăn nuôi, sản xuất. Lúc này phần lớn tư tưởng anh em ổn định, vui vẻ phục tùng sự phân công của tổ chức, nhưng cũng có số ít tư tưởng chưa thông, chưa xác định được trách nhiệm của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam nên buồn, lo và nghĩ “đi sản xuất vậy là hết về miền Nam rồi”, trong khi miền Nam đang phải đối mặt với nanh vuốt của kẻ thù mà anh em thì đi làm kinh tế một cách đơn điệu!. Nhưng khi hiểu rõ đất nước còn khó khăn, lực lượng quân đội nhiều, làm kinh tế để ngân quỹ quốc phòng nhẹ đi, góp phần xây dựng miền Bắc vững mạnh làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam thì ai nấy đều chấp hành. Vậy là lại một lần nữa kẻ đi người ở khóc sướt mướt. Chúng tôi khóc vì những người ở lại được huấn luyện và sẽ được trở về miền Nam trong nay mai, được cầm súng chiến đấu để trả thù cho người thân và bà con. Còn những người đi làm kinh tế thì ngày về vẫn còn xa lắm!. Do hoàn cảnh đẩy đưa, chúng tôi phần đông là những chàng trai mới ngoài hai mươi, cái tuổi mà sự rung động đến thật dễ dàng và nhung nhớ một ai đó cũng là điều dễ hiểu. Anh em thường nói vui mà làm thật “áo trắng còn lâu, áo nâu tạm được”, thế là cảm động trước tấm chân tình của người con gái xứ Thanh, tôi lập gia đình ở tuổi 24. Cũng trong thời gian này, số đông anh em đi làm kinh tế tại các nông trường đều lập gia đình.

Lên Nông trường Ba Vì, toàn cảnh đập vào mắt tôi là vùng đồi núi hoang vu rộng lớn, xa xa có một vài túp lều nhỏ. Anh em phải đi đốn nứa, tre, một số cây gỗ, cắt tranh về cất doanh trại tại chân núi Ba Vì. Nông trường gồm nhiều khu vực, mỗi khu vực là một đại đội. Tại đây, tôi được giao nhiệm vụ trợ lý chăn nuôi thú y, tham gia chăn nuôi sản xuất. Lúc này phần lớn là làm thủ công, anh em đi khai thác, đào gốc chà là, cạy phá đá trên đồi trọc để cày trồng khoai mì, khoai lang, khoai tây và các loại hoa màu khác như bắp cải, su hào… ở chỗ trũng thì làm ruộng trồng lúa phục vụ chăn nuôi. Giống vật nuôi chủ yếu là bò sữa, bò thịt, dê thịt… do Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa cung cấp, hỗ trợ, một phần mình mua. Đặc biệt, lúc này Mông Cổ cho Nông trường 5 con lạc đà nuôi thử, cấp trên không nhận vì nghĩ khí hậu nhiệt đới không hợp, chắc chắn sẽ không nuôi được. Và đúng như vậy, lạc đà đẻ được hai con, cuối cùng bị ghẻ nên chết hết.

Qua thời gian tham gia xây dựng nông trường, làm kinh tế, cuối cùng sự mong đợi cũng đến. Năm 1962, tôi thuộc diện được chọn đi B, tới năm 1963 về huấn luyện bộ binh, xong học đặc công, nhưng do yêu cầu của chiến trường lúc bấy giờ, gần đi B tôi được chuyển qua học pháo binh. Trong thời gian huấn luyện, ngày thì học tập quân sự, đêm đến tập mang vác nặng. Mang gạch khoảng 27 kg cho quen để khi về mang vác những thứ cần thiết cho chuyến đi dài ngày, gian nan. Khi ngày lên đường đã được ấn định, tôi trong tâm trạng mừng, lo khó tả. Mừng vì được trở về miền Nam, được trực tiếp cầm súng chiến đấu, điều mà phần lớn anh em ra Bắc đều mong mỏi. Còn lo là vì vợ con. Con trai đầu mới hơn hai tuổi lại hay bịnh từ nhỏ, đứa con gái thì mới 3 tháng tuổi còn trong bụng mẹ. Gia đình ông bà ngoại không mấy khá giả rồi khó khăn, vất vả lại đổ dồn lên vai người vợ trẻ…

Được cấp trên đồng ý, tôi đi bộ khoảng hơn năm giờ đồng hồ về gặp vợ con ở Ba Vì, quây quần trong hai ngày ngắn ngủi, gấp gáp. Do tình hình nhiệm vụ, Đảng cần, dân cần, bà con cần, tôi là đảng viên, trách nhiệm với quê hương phải đi. Được trở về trong giờ phút này là một vinh dự, tôi cũng không thể chờ lâu hơn nữa. Đêm nằm tâm sự với vợ lẫn trong tiếng nấc nghẹn ngào, “em ở lại cố gắng giữ gìn sức khoẻ để còn lo cho con, anh đi nhất định anh sẽ quay trở lại đón mẹ con em”. Vợ tôi đã khóc rất nhiều, không nhiều sao được khi con trai còn nhỏ, lại đang mang cái bụng bầu sắp tới độ ì ạch, cuộc sống khó khăn, cha mẹ lại già yếu… nhưng vợ tôi không một lời níu giữ, ngược lại động viên tôi trở về bình an, chiến đấu dũng cảm cho đến ngày đất nước thống nhất. Nhớ lại, tôi thầm cảm ơn bà ấy, trong lúc chiến tranh, sự sống và cái chết cận kề trong gang tấc nhưng vợ tôi cũng như bao người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ, trước khi chồng ra mặt trận, họ đều làm hậu phương vững chắc nơi sâu thẳm cõi lòng người chiến sỹ.

Sau hơn một năm huấn luyện, đêm khuya trong lờ mờ sáng của ánh trăng cuối tháng, đúng 0 giờ ngày 02 tháng 9 năm 1963 (Dương lịch) chúng tôi lên đường vào Nam mang theo hành lý nhiều hơn con số tập, tức là 30kg! Tất cả vững một niềm tin tuyệt đối vào Đảng, vào Bác Hồ, tin vào chuyến đi, tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chính nghĩa!

Nhớ lại lần phân ly 50, 60 năm qua tôi còn bồi hồi xúc động, tôi đã may mắn hơn nhiều đồng chí đồng đội là giữ được lời hứa với bà con Cao Lãnh, với người vợ trẻ ngày nào chia tay. Còn đồng đội tôi, nhiều người đã thất hứa với tất cả, có người gia đình còn tìm thấy mồ, nhưng cũng vô số thất lạc, chiến tranh thật khắc nghiệt. Cái giá của độc lập thật đắt và lớn lao. Ở cái tuổi “gần đất xa trời”, có biết bao nhiêu chuyện đã xảy ra trong cuộc đời mình, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được những ngày tập kết tại Cao Lãnh sôi động, hào hùng và đặc biệt là những ngày tham gia xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, để chi viện cho tiền tuyến miền Nam, góp phần vào thắng lợi của mùa Xuân lịch sử năm 1975.

 

 

 

 

 

 
     
  Cộng tác viên ( bao VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |