Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  31/03/2014  
  Ra đi từ Bắc Cao Lãnh, trở về cập bến Nhà Rồng  
  Tôi sinh năm 1937 ở xã Mỹ An Hưng B (Đất Sét), huyện Lấp Vò. Dòng họ tôi đi kháng chiến hết. Các anh ở Tiểu đoàn 307, 308 và 311 cũng thường tới lui nhà chơi. Ba tôi tên Huỳnh Bạch Thược lúc ấy là Trưởng ban tiếp liệu của Liên xưởng Long Châu Sa. Một hôm ba và ông Dương Văn Huê (ở tiểu đoàn 311 và sau nầy ông là ba nuôi của tôi) đi công tác qua, đưa tôi vào căn cứ Đồng Tháp Mười.  
 
 

 


Đại tá, tiến sĩ Huỳnh Bạch Răng kể, Phạm Thị Toán ghi

 


Thế là năm 1951, lúc 14 tuổi, tôi thoát ly gia đình đi kháng chiến. Lúc đầu tôi theo ông Dương Văn Huê (ở tiểu đoàn 311), sau đó về Liên xưởng Long Châu Sa, đóng tại xã Tân Thành, gò Sa Rài huyện Hồng Ngự (bây giờ là huyện Tân Hồng), do ông Tô Hữu Diêu làm giám đốc Liên xưởng. Trước khi về Nam chiến đấu, ông Diêu là giám đốc xưởng đóng tàu Hải Phòng. Về Nam, ông làm trưởng phòng Hậu cần Quân khu 9, sau là Cục Kỹ thuật, Quân khu 9. Về Liên xưởng Long Châu Sa, tôi làm liên lạc. Được một thời gian, cấp trên cho tôi đi học trường kỹ thuật (nghề nguội). 9 tháng ở Liên xưởng Mỹ Tho. Trở về, tôi nhận công tác ở Ban gò – rèn -nguội - sửa súng với chuyên môn nguội - sửa súng.

Tháng 7 năm 1954, lúc chúng tôi đang làm việc với tinh thần hưởng ứng các chiến dịch trên các chiến trường toàn quốc thì Hiệp định Genève được ký kết và tôi được đi tập kết. Trước khi rời khỏi Tân Thành, bộ phận chúng tôi ngày đêm lau chùi, vô dầu mỡ rồi bao kỹ lại cho đơn vị khác đến nhận đem đi chôn. Ông già tôi được phân công ở lại, cũng tham gia cất giấu vũ khí. Bản thân tôi cao không hơn 1,6 mét mà mang theo một khẩu súng trường dài “oẳn tầm sào”, cao quá đầu ra Bắc. Khi có lịnh đi tập kết chỉ với thời gian có hai năm, tôi cũng thích. 17 tuổi rồi, lúc ấy tôi đã biết nghĩ và xác định: ra miền Bắc để học về xây dựng quê hương. Còn học như thế nào và học cái gì thực tình với “trình độ” lớp 3 trường làng như tôi chưa tưởng tượng ra được.

Chúng tôi vừa đi bộ vừa đi bằng ghe xuồng từ xưởng A Tân Thành cả một đêm và một ngày mới về tới quận lỵ Cao Lãnh. Mới tới Cao Lãnh, đơn vị tôi được giao nhiệm vụ xuống Doi Me chọn súng ống còn tốt, lau chùi bụi bặm, vô dầu mỡ Còn chôn ở đâu, tôi không biết. Súng dở thì đem đi theo xuống tàu. Thiết bị - dụng cụ sửa súng thì được tháo rời ra tập trung ở bến sông Doi Me (ngay chợ Mỹ Thọ bây giờ).

Sau khi làm xong việc bảo quản vũ khí, đơn vị tôi hành quân bằng đường bộ, ghe xuồng một ngày đêm từ Tân Thành - Cả Cái về tập kết ở xã Hòa An, quận lỵ Cao Lãnh. Đóng quân trong nhà dân chừng nửa tháng chờ xuống tàu tập kết ra Bắc.

Ở Cao Lãnh, tôi đi xem lầu Mười Chuyển, nơi mà giặc Pháp thường “thụt ô-buýt” qua khỏi quê tôi, tới tận sông Hậu và các nơi khác của Đồng Tháp Mười. Sáng hôm xuống tàu đi tập kết, đêm trước đó ba tôi tới ngủ với tôi. Hai cha con trải chiếu giăng mùng ở ven hàng rào đường lộ, trước cửa nhà đóng quân. Đêm đó ba tôi căn dặn tôi đủ điều: nào học hành, phấn đấu tốt nên người về xây dựng quê hương,  đừng phụ lòng tin của những người ở lại. Một lời dặn dò không bao giờ tôi quên là: phấn đấu vào Đảng. Má tôi thì may cho tôi một bộ “quân phục”, áo có cầu vai, bằng vải thô nhuộm màu xám bằng pin đèn, vài bộ đồ lót và cái áo thun để chống rét. Sáng hôm sau, tôi mang khẩu “oẳn tầm sào” lên vai, xếp hàng một đi từ Cao Lãnh ra cầu Bắc. Khi đi ngang qua cầu Đúc Cao Lãnh, tôi nhìn thấy má và em gái 3 tuổi, dì Sáu tôi và đứa em gái con của dì cùng nhiều bà con đứng tiễn ở bên đường. Kỷ luật quân đội chúng tôi được sinh hoạt trước là khi hành quân phải nhìn thẳng, không được ngó nghiêng phải, trái, đằng sau, thể hiện tư thế của người chiến thắng. Và tôi cũng vậy. Tôi bỗng nghe tiếng nhỏ em tôi la lên: “Má, má,… Anh Hai! Anh Hai! Anh Hai đi bán càrem nhớ mau về nghen”. À, thì ra má sợ khi tôi đi rồi, lỡ tụi lính tới hỏi về tôi nên má dạy em nếu ai hỏi thì nói anh Hai đi bán carem. Trong cảnh chia tay ấy, tôi cũng không dám nhìn lại. Tới Bắc Cao Lãnh cả đơn vị chờ ở dưới những gốc cây, trước sân đình Tân Tịnh tới 9 - 10 giờ tối chúng tôi mới xuống tàu há mồm của Pháp để đi ra “Cấp”. Lúc ấy tôi không nhận ra bên kia sông là nhà tôi vì lúc qua sông vào chiến khu Đồng Tháp Mười, tôi đi ban đêm bằng ghe giao liên với chục tay chèo lận. Sau giải phóng, khi về thăm nhà, đứa em gái ba tuổi hồi nào của tôi đưa tôi đi bằng xe đò từ Sài Gòn về thăm quê. Đến bắc Cao Lãnh, em gái tôi chỉ: nhà mình bên kia kìa anh Hai, thì tôi mới biết, xã Mỹ An Hưng của tôi nằm ngang với chỗ chúng tôi xuống tàu cách đây gần 60 năm.

Chúng tôi lên tàu chở hàng của Pháp khởi hành chuyến thứ hai ngày 23/10/1954. Đi cùng chúng tôi có cả một số bộ đội Cao Miên, không có phụ nữ và trẻ em. Chúng tôi nằm trên sàn tàu, người dính bột mỳ bê bết. Sóng dồi, nhiều người bị say sóng lăn qua lăn lại. Tàu chạy 9-10 ngày mới tới biển Sầm Sơn do phải ghé trốn bão ở Đèo Cả.

Tới Thanh Hóa, cả đơn vị được đón tiếp đặc biệt nồng hậu. Ở Trạm đón tiếp 7 ngày để bồi dưỡng, đêm được xem văn công của Tổng cục Chính trị. Thời gian đó dân miền Bắc rất khổ. Không đủ gạo, phải ăn độn củ chuối, khoai lang, khoai mỳ…nhưng thật xúc động ứa nước mắt, bà con vẫn nhịn ăn để dồn cơm trắng đón đoàn miền Nam tập kết ra. Do chưa ai biết cái lạnh miền Bắc như thế nào nên ra tới Bắc mấy tháng sau gặp cái rét mùa đông lạnh quá. Dù đã chuẩn bị sẵn quần áo rét, ai cũng được phát đủ nhưng tuy mặc hết vào người, ai nấy co ro lại, run cầm cập vì không quen cái rét mùa đông ở ngoài ấy. Một lần, theo kiểu tắm sông ở miền Nam, tôi nhảy xuống nông giang (kinh thủy lợi) để tắm, nhưng vừa xuống nước, lạnh quá tê cứng toàn thân không lên được, phải gọi bạn bè kéo lên.

Sau một tuần ở Trạm đón tiếp Sầm Sơn, các đơn vị được tổ chức lại. 17 tuổi trở xuống được đi học, trên 17 tuổi tiếp tục ở lại bộ đội, chuyển qua đường sắt hay công tác khác tùy theo sự sắp xếp của tổ chức. Tôi về trường học sinh miền Nam, sau về trường Bổ túc công nông trung ương để học văn hóa. Năm 1960 tốt nghiệp phổ thông và được kết nạp vào Đảng. Nhà nước chọn tôi qua Cộng hòa Dân chủ Đức học đại học về thuốc phóng, thuốc nổ (có lẽ do xuất thân từ ngành quân giới của tôi nên được chọn), nhưng nước bạn không nhận đào tạo ngành này và chuyển sang ngành chất dẻo. Năm 1968 tôi tốt nghiệp đại học. Trước khi tốt nghiệp một năm, tôi đã làm đơn đăng ký xin trở lại Bộ Quốc phòng để sớm được về Nam chiến đấu. Về nước đã sáu tháng rồi mà Bộ Đại học không phân công theo nguyện vọng của tôi, tính giữ lại ở Bộ Đại học. Biết có anh bạn về nước trước tôi một năm, đang công tác ở Bộ Tư lệnh Thông tin, hàng ngày tôi đạp xe đạp đi lòng vòng Hà Nội để tìm. Thật may mắn tôi gặp được anh ấy và hỏi Cục Cán bộ, Bộ Quốc phòng ở đâu. Biết được chỗ, tôi đến tìm và gặp được một đồng chí thiếu tá người miền Nam. Đồng chí nói: Cục Cán bộ đang chờ tôi, nhưng Bộ Đại học lại nói tôi chưa về nước…. Thì ra Bộ Quốc phòng đang chờ tôi tái ngũ. Tôi được phân về Cục kỹ thuật của Bộ. Vài ngày sau tôi nhận công tác ở một địa điểm trong núi của tỉnh Hòa Bình. Tôi tự nhủ: chưa được về Nam thì công tác thật tốt ở miền Bắc, phục vụ quân đội trực tiếp cũng là góp sức để ngày giải phóng gần hơn. Và tôi đã nghiên cứu thành công loại keo dán dùng trong phẫu thuật, đặt tên BH - 80 (năm Bác Hồ 80 tuổi) được bác sĩ Trần Mạnh Chu, Bệnh viện 108, bác sĩ Lê Thế Trung, Bệnh viện 103 và giáo sư Tôn Thất Tùng thử nghiệm và ứng dụng thành công trên động vật và người. Ngoài ra loại keo dán này còn được ứng dụng trong công nghiệp và đời sống.

Năm 1972 Bộ Quốc phòng cử tôi trở lại Cộng hòa Dân chủ Đức làm nghiên cứu sinh khoa học ở Viện Hàn lâm. Năm 1975 giải phóng miền Nam, tôi đang ở Berlin chuẩn bị bảo vệ luận án và có nhận được thư của ba tôi. Về nước rồi về Nam bằng tàu thủy Thống nhất cập Bến Nhà Rồng chỉ kịp làm tuần 49 ngày của ông. Cách đấy đúng 21 năm (chứ không phải 2 năm như đã hẹn), đêm trước khi đi tập kết ra Bắc, tôi đã ở bên ông một đêm cuối cùng. Sau hơn 20 năm xa nhà, tôi chỉ được nghỉ hai lần phép để về thọ tang và giỗ đầu ba tôi.  

Đầu năm 1978, Viện trưởng Hoàng Đình Phu cử tôi cùng 4 kỹ sư vào xây dựng cơ sở nghiên cứu, làm đầu mối bảo đảm phục vụ kỹ thuật cho các đơn vị phía Nam với thiết bị mang theo cùng “tài sản” của gia đình tôi chưa đầy nửa xe ô tô giải phóng. Cơ sở nghiên cứu được triển khai ngay trong phòng ở xưa kia của lính phi công Mỹ. Và không lâu sau chúng tôi nghiên cứu thành công keo dán phục hồi vết móp cạn trên cánh quạt máy bay trực thăng UH1, phục vụ kịp thời mặt trận Tây Nam. Sau khi phát triển thành Viện Nghiên cứu ở phía Nam, thiết bị và nhân lực được tăng cường, chúng tôi nghiên cứu phục vụ kỹ thuật đặc trưng: Góp phần phục hồi một số bộ phận cơ khí của máy bay vận tải quân sự AN; Kết hợp với Cục Kỹ thuật Quân khu 9; Nghiên cứu chế tạo một số phụ tùng, duy trì và phục hồi tàu hải quân PCF và LCM - 8; Foint cao su thủy lực chịu dầu CIEOL - M cho pháo mặt đất 122 - D974 và 85 - D944; Chế tạo vè bơi xe bọc thép lội nước M 113….Lúc ấy, giải phóng đã hơn 20 năm, vũ khí Liên Xô viện trợ cũng như vũ khí của Mỹ ta thu được cũng đã quá thời hạn bảo trì mà không có phụ tùng để thay thế. Kết quả của những việc do chúng tôi nghiên cứu thành công đã được các đơn vị huấn luyện và trực chiến sử dụng phổ biến.

Cuối năm 2002, sau gần 52 năm đi theo cách mạng, suốt đời là người lính Cụ Hồ, tôi nghỉ hưu ở tuổi 65. Gần cả cuộc đời binh nghiệp, bắt đầu là một cậu học sinh lớp ba trường làng thành một đại tá, tiến sĩ. Giờ đây trở về cuộc sống đời thường, tôi hay suy nghĩ về khoảng thời gian mấy chục năm trời khi chúng tôi xuống tàu tập kết tại Bắc Cao Lãnh và trở về Nam ở bến Nhà Rồng. Không còn được gặp ba tôi nữa và bây giờ má tôi cũng đã đi xa, buồn nhưng đó là quy luật. Dù sao tôi cũng an lòng vì mình đã thực hiện được ước nguyện của ông, bà, của đồng bào miền Nam gởi gắm cho chúng tôi - những người ra đi sẽ trở về vinh quang.

 


 
     
  Cộng tác viên ( báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |