Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  09/07/2014  
  Ở lại anh dũng  
  Mười sáu tuổi – năm 1947, tôi tham gia công tác thanh niên ở địa phương. Giữa năm 1952, tôi được cấp trên cử đi học khóa quân chính ở Tỉnh đội Long Châu Sa. Đang theo học thì Hiệp định Genève kí kết. Thế là tỉnh ngừng huấn luyện, chúng tôi được lịnh chuyển về xã Hòa An đóng quân. Thời gian chờ các đơn vị xuống tàu tập kết, chúng tôi được học tập cặn kẽ các nội dung của Hiệp định, dự đoán tình hình địch - ta và sự chuyển hướng hoạt động của cách mạng trong tình hình mới. Chúng tôi được ở đây chỉ vỏn vẹn một tháng trong thời gian một trăm ngày các đơn vị tập kết chuyển quân ra Bắc. Nhiều anh em được lịnh đi tập kết, còn tôi được cấp trên quyết định ở lại hoạt động. Chỉ huy đã quán triệt cho mọi người: Đi là một nhiệm vụ và ở lại cũng là một nhiệm vụ.  
 
 

                                                         


 


Sau khi chuyến tàu cuối cùng nhổ neo ra khơi, chúng tôi theo dõi sát diễn biến tình hình địch, tư tưởng của nhân dân đối với cách mạng. Chúng tôi bắt tay xây dựng các tổ chức bí mật trong dân, tuyên truyền vận động quần chúng luôn tin tưởng vào cách mạng, hai năm sau sẽ Hiệp thương tổng tuyển cử và chúng tôi - những người ở lại, sẽ là nòng cốt trong vận động Tổng tuyển cử sau này.

Cũng phải nói thêm, thời kỳ đầu khi anh em mới xuống tàu đi tập kết, kẻ thù còn lơi lỏng cho ta, chưa khủng bố phong trào yêu nước một cách quyết liệt, ồ ạt như sau này. Thế nhưng do được học tập, các đồng chí lãnh đạo ở trên đã phổ biến cho chúng tôi khả năng và diễn biến tình hình địch có thể xảy ra khi ta rút đi hết. Do vậy, khi hoạt động, chúng tôi cũng rất thận trọng và cảnh báo cho anh em luôn phải cảnh giác cao, đề phòng và hoạt động lui vào bí mật.

Tôi trở về quê Long Hưng (bây giờ là Long Hưng B) họp chi ủy trình bày đề nghị chuyển vùng hoạt động từ xã Long Hưng huyện Lấp Vò – quê tôi, ra Sa Đéc nhằm đảm bảo an toàn, bí mật. Để tạo thế hợp pháp, tôi được chi bộ đồng ý bố trí đi học thợ may đồ nam ở Sa Đéc thời gian hai năm, từ năm 1954 đến năm 1956 thì ra nghề, có thể nhận may được đồ của khách. Vừa học nhưng vừa hoạt động. Tiệm may của tôi gần chợ, sát nhà máy xay lúa Hòa Thành (kế nhà thờ Sa Đéc bây giờ). Ban ngày thì may đồ nhưng đêm xuống tôi tới các cơ sở vận động quần chúng tin tưởng vào cách mạng. Cách mạng luôn ở bên cạnh dân. Phân tích cho bà con hiểu rõ sự lật lọng của kẻ thù không thực hiện các điều khoản đã cam kết trong bản Hiệp định, phá hoại hòa bình. Lúc này Mỹ đã nhảy vào hất cẳng Pháp, công khai phá hoại Hiệp định, không chịu Tổng tuyển cử như đã cam kết, dựng Ngô Đình Diệm lên thế Bảo Đại làm Tổng thống.

Lúc ấy tụi Mỹ thường đưa ra khẩu hiệu vận động bầu cử: “Phiếu xanh xé bỏ, phiếu đỏ bỏ vô”(phiếu xanh là của Bảo Đại, phiếu đỏ là Ngô Đình Diệm). Chúng tôi vận động công nhân nhà máy và nhân dân xung quanh chống đối việc bầu cử một cách hợp pháp, không bầu ai trong cả hai tên này. Anh em công nhân nhà máy đang làm việc, tay còn lem luốc dầu mỡ bị lùa ra bầu cử, khi vào phòng bỏ phiếu bôi quệt dầu nhớt lên các phiếu bầu cả Bảo Đại và Ngô Đình Diệm để phiếu bầu cử không hợp lệ….

Hai năm sau khi ký Hiệp định, lại vừa ra nghề nhận đồ của khách được, thấy tình hình hơi êm, tôi được lịnh quay trở lại quê ở xã Long Hưng hoạt động. Lúc này tụi Mỹ - Diệm đã trắng trợn phá hoại Hiệp định. Chúng thẳng tay bắt bớ, tra tấn giết hại những người kháng chiến cũ. Do có một cán bộ bị địch bắt không chịu nổi sự tra tấn dã man của kẻ thù đã khai ra tất cả các đảng viên trong chi bộ. Mà cũng không thể ngờ được. Thằng này từng ăn cơm nhà ai, họp hội cùng ai, thậm chí cả người hớt tóc cho nó, liên lạc cho nó, nó cũng khai tuốt luốt. Tổn thất thật khủng khiếp. Chi bộ xã Long Hưng giai đoạn này gần như bị xóa sổ. Mười bốn trong tổng số mười tám đảng viên trong đó có tôi rơi vào tay kẻ thù, chỉ có bốn người trốn thoát được. Lúc ấy bà xã tôi vừa sanh mới được hơn tháng. Chúng đưa tôi từ Long Hưng tới trại giam Sa Đéc về tỉnh Vĩnh Long rồi tới khám Chí Hòa.

Trong khoảng ba tháng đầu mới bị bắt, chúng đánh tôi tơi bời để hoàn tất hồ sơ và khai thác xem có tìm thêm manh mối cơ sở cách mạng hay những cán bộ ở lại nằm vùng không. Rơi vào tay kẻ thù, tôi không hề so đo giữa sự sống và cái chết, giữa đòn roi xé da xé thịt của những tên đồ tể. Tôi luôn nhủ thầm - không được gục ngã, đầu hàng. Mới đầu tôi chỉ nói không biết, vừa có ý dò xem chúng biết về tôi đến đâu. Vài ngày sau, tôi được anh em trong tù hướng dẫn, để tránh bớt đòn roi của kẻ địch, cái nào chúng biết mà không gây tổn thất cho cách mạng thì cứ khai nhận nhỏ giọt. Biết đồng chí bí thư cũ của xã mới hy sinh, tôi đã khai có hoạt động chung và thường liên lạc với ông ấy trước khi bị bắt một thời gian.

Thế mà cứ hai ba ngày một lần, chúng lại lôi tôi lên thẩm vấn. Không tìm thêm được cái gì chúng lại đè ra tra tấn. Cách tra tấn thì ôi thôi đủ kiểu. Chúng trói tay, trói chân rồi đắp khăn phủ lên mặt. Mặt ngửa lên trời. Chúng dùng cái thùng để trên cao, đổ nước vô đó có vòi chảy nước lên mặt, lên mũi tôi. Nghĩ lại tới bây giờ còn rùng cả mình. Chưa hết, có hôm chúng bỏ tôi vào cái thùng phi ngập nước rồi dùng cây tầm vông dọng bên ngoài thùng phi. Mỗi lần cái cây dọng vô thùng phi, tim phổi tôi muốn bể, bị tức nước, máu họng, máu lỗ tai trào ra. Có lúc chúng dùng dây điện luồn vô cây tầm vông. Cắm điện, dây điện trong ruột cây tầm vông đụng vô người là tôi té xỉu liền, mê man luôn. Sau mỗi trận tra tấn, chúng kéo về phòng giam, cả người tôi rũ xuống, bê bết máu. Chúng hay lôi tù nhân lên tra tấn vào chập tối hay nửa đêm. Cứ mỗi lần từ nửa tiếng tới một tiếng. Người nào lỡ khai ra một ít là chúng tra tấn lâu hơn, tàn bạo hơn.

Khi thành án, sức khỏe đỡ dần, tôi được anh em trong tù tín nhiệm cử vào Ban đại diện. Chúng tôi thống nhất mục tiêu đấu tranh trong tù là đòi quyền dân sinh cho tù nhân như: đấu tranh yêu cầu nhà bếp phải cho anh em một tuần ăn mấy bữa thịt, cá. Nếu không đủ theo cam kết thì cả năm sáu trăm tù tuyệt thực nhất định không ăn. Ở chật chội quá chúng tôi cũng đấu tranh. Nhà tù chỉ giam khoảng bốn trăm nhưng chúng nhồi nhét hơn sáu trăm người, chúng tôi cũng đấu tranh giãn tù. Trong tù anh em rất thương nhau. Cũng có một số tù “giả” địch cài vào để tìm những đồng chí lãnh đạo trong tù. Chúng tôi thường xuyên dò tìm những tên đội lốt tù để tìm cách đánh bật chúng ra. Phương cách cũng đơn giản, cho anh em đánh nhau với mấy tên này rồi báo với tụi lính là mấy người này chuyên gây sự với tù, buộc chúng phải chuyển đi chỗ khác….

Hai năm sau, chúng thả tôi về và tôi đã tiếp tục hoạt động. Trước năm 1975 tôi là cán bộ kinh tài ở thị xã Sa Đéc. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi đã được giao các nhiệm vụ: phó phòng kinh tế, tài chánh, thương nghiệp, lương thực cho tới lúc nghỉ hưu vào năm 1981.

Nghĩ lại nhiều lúc tôi cũng ngạc nhiên, trong cuộc chiến dai dẳng nhưng vô cùng khắc nghiệt này, hơn hai mươi năm kể từ khi các anh xuống tàu ra Bắc tới ngày giải phóng, thế mà chúng tôi - những người ở lại vẫn sống, vẫn hiên ngang đối mặt trước quân thù. Và chúng tôi, những người ở lại đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng giao cho: Ở lại anh dũng./.


 
     
  Phạm Thị Toán ( báo Văn nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)












  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |