Thứ Hai, ngày 24 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  09/07/2014  
  Hành trang cho ngày trở về  
  Sau này có những lúc tôi hay suy nghĩ tại sao mới 14 tuổi, cái tuổi không nhỏ cũng chưa gọi là lớn, chữ nghĩa thì chưa rành, thế mà khi nghe bộ đội về tuyển quân, tôi bám riết năn nỉ anh Nguyễn Văn Giáo cán bộ Trung đoàn 120 để anh phải đồng ý thu tôi. Tôi được vào bộ đội thuộc Trung đoàn 120 đóng gần gò Sa Rài thuộc xã Tân Thành - Cả Cái  huyện Hồng Ngự, bây giờ là huyện Tân Hồng, giáp Campuchia. Liên xưởng lúc ấy do ông Nguyễn Văn Tiên làm giám đốc, sau ông này cũng đi tập kết làm hiệu trưởng trường lái tàu ở Hải Phòng.  
 
 


            Đó là vào năm 1949. Mới vô đơn vị, còn nhỏ lại nhanh nhẹn, chỉ huy phân công tôi làm liên lạc ở “BCX” trung đoàn 120. Đến năm 1951 chuyển thành “BCX” liên Trung đoàn 105/120. Năm 1952 tôi được chuyển về liên xưởng Long Châu Sa thì được cử đi học văn hóa để nâng cao trình độ tại trường tiểu học Mỹ Tho. Năm 1953 mới tốt nghiệp tiểu học (tương đương lớp 5 bây giờ) và về Ban nguội của Liên xưởng Mỹ Tho đóng tại vùng Kinh Dương Văn Dương thuộc tỉnh Mỹ Tho. Và giữa năm 1953 tôi được chuyển về Ban nguội của Liên xưởng Long Châu Sa (BCX “C”), ở trong Ngọn Cá Rô, thuộc xã Tân Thành - Cả Cái do ông Nguyễn Văn Diêu làm giám đốc. Nhiệm vụ trực tiếp của tôi là sửa súng, làm lựu đạn. Công việc cụ thể là pha thuốc nổ, làm ngòi nổ cho lựu đạn gài và lựu đạn bắn (còn gọi trom-long-Tromblon).

Lại nói về chuyện sản xuất vũ khí cho cách mạng. Sau này tôi nghĩ có thể không ở đâu trên trái đất này lại có cái kiểu sản xuất vũ khí như ở chiến trường miền Nam chúng ta lúc ấy. Chẳng hề có trường lớp nào huấn luyện, chỉ vô công xưởng vài ngày là có thể thành thạo theo kiểu người đi trước chỉ người đi sau. Ở trong đồng sâu thì vật liệu lấy ở đâu ư? Do Ban cung ứng vật tư thu gom ở dân và do giặc Pháp “cung cấp” bởi ngày nào mà chúng chẳng thả bom ở khắp mọi nơi và bom nổ chậm thì không thiếu. Anh em ra xung quanh nơi ở khiêng bom nổ chậm, bom điếc vô xưởng rồi hì hục tháo ngòi nổ lấy thuốc (vỏ làm thủy lôi để đánh tàu). Sau khi lấy ra cả đống thuốc nổ, chúng tôi tiến hành pha thuốc và làm ngòi nổ theo công thức có sẵn. Mà 01 trái bom thì làm được cả đống lựu đạn đủ loại. Nói thì thấy đơn giản nhưng ai cũng biết những hiểm nguy luôn rình rập nếu sơ ý. Thực tế cũng có không ít anh em mình vừa mới chạm vào kíp nổ chưa kịp lấy thuốc, quả bom phát nổ ngay và thật đau xót, thân thể không còn nguyên vẹn…..Anh em luôn có ý thức, tự dặn trong lòng lúc nào cũng phải hết sức cẩn thận vì công việc luôn cận kề giữa sự sống và cái chết. Nhưng lúc ấy anh em không hề lo sợ. Vì sự nghiệp cách mạng, chúng tôi đã xác định sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời và sự hy sinh của mình sẽ không vô ích….

            Đình chiến tôi được đơn vị chọn đi tập kết. Trước ngày xuống tàu tập kết giám đốc Liên xưởng Long Châu Sa cử tiểu đội tôi đi chôn vũ khí ở đám tràm trong Ngọn Cá Rô thuộc xã Tân Thành - Cả Cái để lại sau này chiến đấu. Công việc chỉ làm vào ban đêm. Chúng tôi lựa chọn những khẩu súng còn tốt, lau sạch rồi bôi dầu mỡ, xung quanh quấn nylon chặt lại. Lựu đạn thì không bôi nhưng lựa những trái còn mới, lau sơ bụi. Đào 3 đến 4 hầm diện tích ngang 2 mét, dài 3 mét rồi cho súng và lựu đạn vào những cái thùng đã được đóng từ trước rồi đóng nắp, bỏ đất đắp lên giống như những ngôi mộ đã lạng. Sau đó chúng tôi vẽ bản đồ tất cả những hầm vũ khí vừa chôn về giao lại cho Ban Chỉ huy (Sau này tôi nghe nói thời chống Mỹ các đồng chí ở lại dựa vào những tấm bản đồ này cho đào lên lấy hết số vũ khí đã chôn để chiến đấu với Mỹ ngụy). Chôn xong chúng tôi có lịnh hành quân về Hòa An, Cao Lãnh. Lẽ ra đơn vị xuống tàu đi chuyến đầu tiên nhưng không kịp nên chúng tôi ở lại xã Hòa An để đi chuyến thứ hai.

Tới đây, các tiểu đội được gom thành trung đội do ông Lài, trưởng Ban nguội làm trung đội trưởng. Trung đội tôi lại được giao nhiệm vụ đi vận chuyển máy móc thiết bị hơn 20 tấn của Liên xưởng ra Doi Me, đưa xuống ghe chở ra tàu Pháp để chở ra Bắc cùng bộ đội tập kết theo qui định của Hiệp định. Những ngày cùng ở với dân, tôi dạy cho các em thiếu nhi các bài hát cách mạng như: Nhớ ơn Cụ Hồ, Nam Bộ kháng chiến, …

Ba má tôi đã mất, nghe tin tôi được đi tập kết, chúng tôi sắp xuống tàu thì tầm 5 - 6 giờ chiều anh ruột tôi là Huỳnh Văn Kiến ở xã Mỹ An Hưng qua Hòa An, nơi đơn vị đóng quân tìm tôi. Anh em vui mừng ôm nhau khóc nức nở. Anh cho tôi một bộ đồ và 50 đồng tiền Đông Dương sau khi dặn dò tôi ra Bắc phải cố gắng phấn đấu, học hành. 7 giờ tối bộ đội hành quân xuống tàu. Đoàn quân ra đi ai ai cũng đưa hai ngón tay lên cao - hẹn hai năm sẽ trở lại. Bà con xã Hòa An vừa vẫy tay chào, vừa khóc nức nở. Các chiến sĩ ai cũng khóc.

Trên tàu bộ đội tự nấu cơm, đồ ăn có sẵn, anh em tự làm. Đơn vị tôi đi chuyến thứ hai tàu Ba Lan thì gặp bão trên biển phải 4 ngày 3 đêm chúng tôi mới cặp bến Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa vào ban đêm. Tàu không thể cập bờ, bộ đội phải đem một số tàu nhỏ, nhân dân phải chèo xuồng ra đưa anh em vào đất liền. Từ đây chúng tôi được đưa tới huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Nghỉ ngơi 10 ngày ở đây, xe khách tiếp tục đưa chúng tôi qua Hà Nội lên Bắc Ninh. Cả đơn vị nghỉ ở đây hơn nửa tháng trong nhà dân chờ nhận nhiệm vụ mới. Sau đó một số chiến sĩ đơn vị quân giới Liên xưởng Long Châu Sa được biên chế vào Tổng cục đường sắt, chúng tôi vinh dự được đi bắc đường sắt từ Hà Nội tới Mục Nam Quan, nối liền Hà Nội Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và các nước xã hội chủ nghĩa.

Năm 1956 tôi được chuyển sang Quốc doanh vận tải ô tô, từ phụ xe, một thời gian sau thành lái xe. Năm 1958, cấp trên cho tôi về Hà Nội đi học bổ túc văn hóa và tới năm 1960 tôi đã thi đậu vào khoa công nghiệp trường Đại học Kinh tế quốc dân. Sau khi tốt nghiệp đại học vào năm 1965, tôi được Bộ Giao thông Vận tải cho về làm giảng viên trường Đại học Giao thông Vận tải. Năm 1972 Bộ rút về làm phó phòng Lao động tiền lương thuộc Cục Quản lý đường bộ, Bộ Giao thông Vận tải rồi trưởng phòng Lao động tiền lương….

Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1976 tôi được về Nam làm trợ lý Trưởng ty Giao thông Vận tải và năm 1977 là Phó Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Đồng Tháp kiêm Trưởng ban cải tạo vận tải tư nhân của tỉnh và 1982 làm Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh Đồng Tháp cho tới năm 1992 thì nghỉ hưu 40 năm tuổi Đảng, được nhà nước tặng thưởng 1 Huy chương kháng chiến hạng 3, 1 huy chương chống Mỹ cứu nước hạng 2 và Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc….

Nhìn lại những năm tháng kể từ ngày ra đi, bước chân xuống tàu tập kết, rồi được sống, học tập và làm việc trên đất Bắc. Từ một cậu bé nghèo, thất học đi theo cách mạng, được cách mạng cho đi học, rồi cho ra Bắc tập kết, dù lúc nào cũng đau đáu nhớ về quê hương nhưng vượt qua mọi khó khăn, tôi luôn phấn đấu…, chuẩn bị cho ngày trở về, góp sức mình cho quê hương trong những ngày đầu mới giải phóng còn bộn bề khó khăn.

Cám ơn những người ở lại - chiến đấu, hy sinh, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Chúng tôi, tất cả những người ra đi - đã chuẩn bị hành trang cho ngày trở về xây dựng lại quê hương ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, có thể sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ kính yêu của chúng ta khi còn sống.


Ông Huỳnh Hồng Nam

 
     
  Phạm Thị Toán ( báo Văn nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật








  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)






  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |