Thứ Hai, ngày 24 tháng 9 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  09/07/2014  
  Dù lỗi hẹn nhưng chúng tôi cũng đã trở về  
 

 

            Tôi sinh ra và lớn lên trên quê hương Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh. Khi vừa tròn 19 tuổi – đó là vào năm 1950, tôi tham gia du kích của xã Mỹ Hiệp. Lúc ấy phong trào cách mạng đang vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Tin chiến thắng ở các nơi bay về khiến tôi - một thanh niên mới lớn không thể ngồi yên ở nhà nhìn thời cuộc và tôi đã đi theo cách mạng, vô du kích như một lẽ tự nhiên, thường tình, không cần ai đến giác ngộ hay vận động. Cho tới năm 1952 tôi đã trở thành bộ đội địa phương của huyện đội Cao Lãnh và năm 1953 tôi là lính bộ binh thuộc đại đội 949 tiểu đoàn 311 của tỉnh Long Châu Sa.

Đình chiến năm 1954 đại đội tôi tiếp quản Cao Lãnh, rất vinh dự được giao nhiệm vụ đi canh gác đảm bảo an ninh tuyệt đối cho Ủy ban Liên hiệp đình chiến làm việc an toàn. Đơn vị tôi được bố trí đóng trên lầu 2 ngang nhà máy nước, nhà máy điện. Tôi nhớ ông Tư Diệu (em ông Ba Sơn, Ủy ban Kế hoạch sau này) lúc ấy là chỉ huy đơn vị. Cả trung đội được phân công ban ngày hành quân theo hàng, ăn mặc quân phục chỉnh tề, vai mang súng rất oai phong từ chỗ ở đi qua chợ tới địa điểm sân banh kế lầu Mười Chuyển (Nhà thiếu nhi bây giờ) là nơi Ủy ban Liên hiệp đình chiến làm việc. Ngoài giờ trực gác, tôi và vài chiến sĩ thường trèo lên nhà máy nước chơi, bởi chỗ ấy khá cao, nhìn toàn quận lỵ về đêm dưới ánh đèn điện thật đẹp, người dân đi lại nhộn nhịp rất vui. Cũng có lúc đơn vị được phân công về xã Hòa An trực gác đêm.



 
 
 


 


 

          

Đình chiến năm 1954 đại đội tôi tiếp quản Cao Lãnh, rất vinh dự được giao nhiệm vụ đi canh gác đảm bảo an ninh tuyệt đối cho Ủy ban Liên hiệp đình chiến làm việc an toàn. Đơn vị tôi được bố trí đóng trên lầu 2 ngang nhà máy nước, nhà máy điện. Tôi nhớ ông Tư Diệu (em ông Ba Sơn, Ủy ban Kế hoạch sau này) lúc ấy là chỉ huy đơn vị. Cả trung đội được phân công ban ngày hành quân theo hàng, ăn mặc quân phục chỉnh tề, vai mang súng rất oai phong từ chỗ ở đi qua chợ tới địa điểm sân banh kế lầu Mười Chuyển (Nhà thiếu nhi bây giờ) là nơi Ủy ban Liên hiệp đình chiến làm việc. Ngoài giờ trực gác, tôi và vài chiến sĩ thường trèo lên nhà máy nước chơi, bởi chỗ ấy khá cao, nhìn toàn quận lỵ về đêm dưới ánh đèn điện thật đẹp, người dân đi lại nhộn nhịp rất vui. Cũng có lúc đơn vị được phân công về xã Hòa An trực gác đêm.

Lúc ấy không biết có phải do khí thế của ta quá lớn nên kẻ địch hầu như không dám ho he gì, ít dám gây khó dễ cho ta. Nhưng khi có cơ hội gặp những người đi tập kết chúng lén vận động chúng tôi ở lại sẽ cấp ruộng vườn để sinh sống, ra Bắc sẽ nghèo khổ, nghèo đói - bởi đơn vị tôi cũng thường phải tiếp xúc với chúng. Tôi còn nhớ Ủy ban Liên hiệp đình chiến gồm đại diện ta và Pháp thường xuyên hội họp để bàn việc thi hành Hiệp định Genève trong thời gian 100 ngày bộ đội chuẩn bị xuống tàu tập kết. Tôi thấy đi theo đoàn của Ủy ban Liên hiệp còn có cả những tên ngụy quyền tay sai, ánh mắt luôn lấm la lấm lét, sợ bị trả thù bởi trước đó chúng gây nhiều tội ác cho dân, cho cách mạng.

Các cuộc họp của Ủy ban Liên hiệp đình chiến thường diễn ra rất gay gắt. Ta đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng vạch mặt thực dân Pháp về các hành động trắng trợn vi phạm Hiệp định, những luận điệu vu cáo bỉ ổi của chúng với ta hay những vụ phá hoại có tổ chức của chúng, ý đồ chúng muốn gây rối trật tự, làm lòng dân hoang mang, người dân dần dần giảm lòng tin với cách mạng. Nổi bật trong thời gian này như ta đấu tranh kịch liệt với địch bắt chúng trả lại cái máy đèn lớn, chúng đã đem về Sa Đéc làm mất điện toàn quận lỵ Cao Lãnh và chúng ta đã thắng. Lúc ấy tôi hay suy nghĩ không biết niềm vui của những ngày hòa bình này sẽ kéo dài được bao lâu? Liệu 2 năm khi chúng tôi ra đi, đến khi trở về có thay đổi gì không? Và sau những ngày độc lập ngắn ngủi này, khi bộ đội xuống tàu, kẻ địch có thực hiện những điều khoản trong Hiệp định không?.....Tuy có lúc nghĩ thế nhưng tôi cũng không dám bộc bạch suy nghĩ của mình với ai bởi không khí hòa bình xung quanh vẫn còn đang náo nhiệt, người dân đang rất vui mừng.

Thời gian ở Cao Lãnh chờ tập kết, trước khi xuống tàu chúng tôi được chỉ huy cho tới xã Hòa An thắp nhang mộ cụ Nguyễn Sanh Huy, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi tuy không nói ra nhưng đều tự nhủ trong lòng, ra Bắc nếu được gặp Bác, chúng tôi sẽ thưa với Bác: chúng con đã thay Người thắp nén nhang thơm trên mộ người thân sinh của Bác.

Thế rồi ngày xuống tàu cũng đến. Đại đội tôi được bố trí đi chuyến tàu đầu tiên vào ngày 20 tháng 10 năm 1954. Mỗi anh em ngoài đeo khẩu súng mut (súng trường) còn mang quần áo, lương khô, một ruột tượng dài đựng khoảng 3-4 kg gạo xuống tàu nấu ăn trong những ngày trên biển. Chúng tôi xuống tàu há mồm của Pháp ở bến Bắc Cao Lãnh. Ở mõm tàu có một cái nắp lưới bằng những thanh sắt ghép lại, khi bộ đội xuống hết thì nó cất lên. Tôi còn nhớ xuống tới tàu bọn lính Pháp muốn gây khó dễ cho ta. Chúng xả nước cho sàn tàu ngập tới nửa đầu gối chân khiến anh em ướt hết, đi lại bì bõm trong nước rất khó khăn. Mọi người rất bức xúc phản đối ầm ầm. Sau đó ông Sĩ là trung đoàn trưởng rất giỏi tiếng Pháp phải điều đình với chúng căng thẳng, sau chúng mới xả nước ra hết rồi anh em lau sàn tàu. Xuống tàu tôi không bị say sóng. Tôi ăn lương khô, bánh mì và uống nước, không ăn nổi cơm. Sau 3 đêm 4 ngày chúng tôi ra tới bãi biển Sầm Sơn, Thanh Hóa. Tàu cập bến, rất đông nhân dân Thanh Hóa ra đón ở bãi biển khiến chúng tôi cũng ngui ngoai nỗi nhớ quê hương, gia đình, bạn bè.

Ra Bắc, sau ít ngày nghỉ ngơi an dưỡng tôi được học tập, tham gia cải cách ruộng đất, chỉnh đốn quân đội nhân dân, giảm nhẹ biên chế, chỉ những đồng chí có sức khỏe loại A mới được ở lại bộ đội. Do sức khỏe loại B không phục vụ lâu dài trong quân đội, tôi được chuyển ngành về làm công nhân quốc phòng, chuyên đi xây dựng doanh trại, nhà kho cho quân đội. Tháng 9 năm 1975, sau giải phóng tôi trở về Nam.

            Giờ đây đã cao tuổi, lại bị tai biến nặng không đi lại được, không biết còn sống được bao lâu, nhưng mỗi khi nhớ lại quãng thời gian trước khi tập kết tôi không khỏi bùi ngùi, xúc động. Hai mươi mốt năm sống trên đất Bắc chúng tôi được đào tạo, được học hành và đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho đất nước.

Dù lỗi hẹn nhưng chúng tôi cũng đã trở về./.


Ảnh ông Xích

 
     
  Phạm Thị Toán ( Báo Văn nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật








  • TRANG THƠ VNĐT (10/09/2018)







  • LỄ CƯỚI (05/09/2018)






  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |