Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  09/07/2014  
  Chúng con đã thực hiện được ý nguyện của Người  
 

Ba tôi là ông Nguyễn Văn Nhượng – Năm Nhượng, lúc ấy là Huyện đội trưởng huyện Tân Hồng tỉnh Long Châu Sa. 13 tuổi, tôi đang đi học thì ba về đưa tôi đi theo vì ông sợ lớn hơn tôi bị bắt lính. Tôi sinh năm 1940 tại Tân Khánh Đông, Sa Đéc. Do còn nhỏ, tôi vào làm liên lạc cho ba tôi. Công việc chính của tôi là đưa thư trong các xã thuộc huyện Hồng Ngự và Tân Hồng (như từ xã An Phong, Tân Thành, Cả Cái, vùng sông Sở Thượng giáp Cao Miên, Dứt Gò Suông, Gò Sa Rài, Kho Bể - vùng giếng nước ngọt…. Đi lại chủ yếu bằng xuồng bơi. Đó là vùng căn cứ của ta, là nơi các đơn vị bộ đội đóng quân. Vào đơn vị vừa làm vừa học, mấy chú dạy biết mặt chữ chứ không theo trường lớp nào. Tới năm 1953 ba tôi được Trung ương cử đi học dài hạn ở Trung Quốc (trước khi đi học là Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 311 tỉnh Long Châu Sa kiêm Huyện đội trưởng Tân Hồng. Năm 1962 ông trở về Nam làm Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiến Phong).

 
 
 


 

                                                 Ông Nguyễn Văn Bé kể 

                                                               


Khi tôi 14 tuổi thì đình chiến, tôi đang ở Tân Thành - Cả Cái được lịnh về huyện đội Lai Vung, ở vài ngày chúng tôi hành quân về kinh Sáu Quốc tập trung vào Trung đội E (còn gọi đơn vị thiếu sinh quân), thuộc Tiểu đoàn 311, Trung đoàn 658 Tỉnh đội Long Châu Sa để chuẩn bị đi tập kết. Trước đó bà ngoại không cho tôi đi vì bà chỉ có 2 chị em tôi là cháu ngoại. Sau nói mãi bà mới cho đi nhưng với điều kiện phải để chị Hai tôi lại cho bà (chị tôi ở lại cũng hoạt động cách mạng, sau lấy chồng là anh Trần Văn Bé, là Phó Ban An ninh Sa Đéc, hy sinh năm 1972). Còn tôi dù nhỏ nhưng được đi xa là tôi khoái rồi bởi nghĩ đi sẽ được học hành đàng hoàng. Ở trong Nam giặc giã liên miên làm sao mà học được.

Ngoại và má tôi từ Lai Vung bơi xuồng qua Cao Lãnh đưa tiễn tôi xuống tàu. Má tôi mặc bộ đồ bà ba đen còn mới, trên cổ có choàng chiếc khăn rằn - nét đặc trưng của các bà má Nam bộ hồi ấy. Bà căn dặn tôi đủ điều: Con ra ngoài đó phải cố gắng học hành bằng anh bằng em, chỉ 2 năm sẽ về, mọi người trông chờ vào con….

            Chúng tôi ở nhờ trong nhà dân. Còn ăn uống thì bộ đội thay phiên nhau tự nấu. Tuy vậy do chúng tôi còn nhỏ, đa phần tầm 11-12 tuổi, đều đã sống thoát ly gia đình, sinh hoạt trong tổ chức cũng đã vài năm, lại là dân lao động hoặc làm thuê, ở đợ nhà giàu nên khi được vào đơn vị rất ngoan ngoãn, chăm chỉ, nề nếp và kỷ luật nghiêm túc. Bà con thấy chúng tôi còn nhỏ lại sắp phải xa gia đình, xa vòng tay cha mẹ, anh em nên ai nấy đều rất thương yêu. Cứ có gì ngon lại múc đem cho, ép chúng tôi phải ăn cho thật nhiều dù bà con đa phần rất nghèo, cuộc sống cơ cực, thiếu thốn. Bà con hay chỉ chúng tôi với mọi người rồi căn dặn: “Không có gì quí nhất là cách mạng cho các cháu được học hành để các cháu có kiến thức, phục vụ lâu dài. Ở trong này không có trường lớp, chắc không được học hành, ra ngoài đó các cháu phải cố gắng nha….”.

           Sau này tôi hay suy nghĩ những lời căn dặn quí báu của bà con, dù không phải bà con ruột thịt nhưng họ đã gởi gắm, hy vọng vào lớp trẻ chúng tôi ra Bắc được học hành đàng hoàng, 2 năm sẽ quay về sau khi Tổng tuyển cử, thống nhất đất nước, xây dựng lại quê hương.

Có một kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời tôi trên đất Cao Lãnh trước khi tôi xuống tàu, đó là đơn vị có chọn một số em lớn khoảng 1 tiểu đội của Trung đội E trong đó có tôi (không phải tất cả trung đội đều được đi) tới tu sửa mộ Cụ Nguyễn Sanh Huy. Trước khi đi, có lẽ để giữ bí mật vì đa phần chúng tôi còn nhỏ, chỉ huy phổ biến cho anh em: “Đến sửa mộ một người có công với cách mạng”, chứ thực tình lúc ấy chúng tôi chưa biết đó là mộ của ông già Bác Hồ, sau ra Bắc mới biết. Từ kinh Sáu Quốc cả tiểu đội đi bộ xuống. Tôi nhớ đó chỉ là một ngôi mộ đất, có núm xi măng ở trên một cái liếp, xung quanh không thấy mộ nào khác và ở cách hơi xa nhà dân, không có bia mộ, xung quanh nhiều cây cối, có một cây đa lớn và nằm kế một ngôi chùa nhỏ. Chúng tôi dọn cỏ, quét dọn sạch sẽ xung quanh ngôi mộ, mỗi người thắp một nén nhang trên mộ rồi mới trở về nơi đóng quân ở kinh Sáu Quốc.

Tuy nhỏ nhưng chúng tôi cũng được ưu tiên phát đồ bộ đội, cũng có nón, có dép cao su. Nhìn cả hàng quân trẻ em vẻ mặt nghiêm trang, tuy không được cười nhưng ai nấy hớn hở, quân phục nghiêm chỉnh, đàng hoàng thấy rất đẹp, oai phong. Chúng tôi hành quân bộ từ kinh Sáu Quốc tới Cầu Đúc, cầu Cái Tôm, xã Tịnh Thới rồi ra Bắc Cao Lãnh. Bà con hai bên đường rất đông và vui, chỉ chúng tôi, vẫy tay tiễn đưa làm chúng tôi rất tự hào, hãnh diện.

Ra Bắc tôi đã học qua các trường học sinh miền Nam số 2, số 14, số 23, rồi bổ túc công nông. Tôi đã học chung với ông Phan Văn Khải, bà Hồ Thị Bi, chị Lê Thị Hồng Minh, con Lê Hồng Phong, Hoàng Lê Kha con Lê Duẩn, Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, con ông Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng…. và vợ tôi cũng là cháu của Tổng Bí thư Trần Phú.

Sau đó tôi thi đậu vào trường Đại học Bách khoa Hà Nội, rồi trường Sĩ quan Hải quân. Năm 1968 tôi được qua Liên Xô học về kỹ thuật phòng không không quân (do chiều cao không đủ tiêu chuẩn lái máy bay). Sau khi tốt nghiệp tôi được điều về làm cán bộ kỹ thuật cơ quan Bộ Tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân, chung đơn vị Sư đoàn 371 với Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nguyễn Văn Bảy, cũng quê Đồng Tháp. Chúng tôi tham gia trận đánh (tôi điều khiển ở dưới mặt đất), cùng Anh hùng Nguyễn Văn Bảy sử dụng Mig 17 bắn rơi 7 máy bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Khi B52 bay tới bỏ bom, bao giờ cũng có máy bay F4, F4H bay ở tầng thấp để ta không phát hiện được. Lúc ấy Mỹ hống hách tuyên bố sẽ đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá. Ta quyết tâm hiệp đồng tác chiến vừa bộ binh, pháo binh và không quân đánh thắng giòn giã, bắn rơi tất cả 34 máy bay B52, không kể nhiều máy bay khác, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam ở hội nghị Pari.

Thời gian sau tôi được điều về Cục Kỹ thuật Phòng không - Không quân, rồi Trưởng ban kỹ thuật của Nhà máy A 37. Sau đó được chọn đi nghiên cứu sinh (học bổ túc ngoại ngữ ở Lạng Sơn, nhưng sau chuẩn bị cho giải phóng miền Nam nên quân đội điều động gấp về đơn vị Phòng không - Không quân phục vụ chiến đấu, chuẩn bị hành quân về Nam. Theo yêu cầu của quân đội, tôi còn học thêm đại học Kỹ thuật quân sự từ năm 1972-1973. Sau đó tôi trở lại Quân chủng Phòng không - Không quân làm trợ lý kỹ thuật, phòng Xe máy - Điện khí của Quân chủng.

Tháng 3/1975 trên điều động tôi về đơn vị chuẩn bị Giải phóng miền Nam với nhiệm vụ phụ trách kỹ thuật Xe máy- Điện khí phục vụ không quân và Phòng không. Hiểu nôm na là máy bay muốn nổ máy, bay lên được phải khởi động bằng “điện khí” và tên lửa của phòng không muốn di chuyển đến các trận địa để bắn được máy bay địch bắt buộc phải có “xe máy” vận hành. Tôi đã nghiên cứu tập huấn tính năng, tác dụng cho anh em những thiết bị mới về Phòng không - Không quân của Liên Xô trang bị cho Việt Nam như: Z 130, 131. Tên lửa của ta lúc đầu được Liên Xô sử dụng thiết bị cần trục cơ khí, sau trang bị bằng thủy lực.

Hành quân về Nam, Trung đoàn 263 của chúng tôi kéo tên lửa bằng xe ô tô chỉ đi trong đêm, chạy xe bằng đèn ngầm, không sử dụng đèn pha sợ máy bay địch phát hiện nên di chuyển rất chậm. Mỗi đêm chỉ đi được vài chục kilomet. Mới tới Đồng Xoài thì nghe tin đã giải phóng miền Nam rồi. Nhưng binh chủng không quân chúng tôi dưới sự điều khiển của phi đội trưởng Từ Để, một tốp 3 chiếc máy bay trong đó có phi công Nguyễn Thành Trung theo lệnh bỏ quả bom gây tiếng nổ đầu tiên giải phóng miền Nam giữa trung tâm Sài Gòn. Đơn vị hành quân tiếp vào tới Sài Gòn, Binh chủng tôi được lịnh tổ chức 3 đoàn vào tiếp quản các sân bay Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Biên Hòa. Đặc biệt tới sân bay Cần Thơ, toàn bộ trang thiết bị kỹ thuật còn nguyên vẹn, sáng choang. Chúng tôi muốn rơi nước mắt khi tất cả mọi thứ quan trọng như mấy chục chiếc máy bay, thậm chí cho tới dụng cụ nhà ăn trong sân bay hầu như không có gì bị thất thoát bởi ta giải phóng nhanh quá, hoảng hốt chúng không kịp phá hoại được. Năm 1977 tôi là Trung tá, Giám đốc Nhà máy A43 Quân chủng không quân ở sân bay Tân Sơn Nhất và năm 1981 tôi là Phó trưởng phòng Xe máy điện khí Quân chủng Không quân.

Ra Bắc rất may mắn tôi được gặp Bác Hồ 6 lần. Khi tới thăm trường miền Nam Bác luôn dặn dò chúng tôi: “Các cháu phải cố gắng học, sau về phục vụ đồng bào miền Nam”. Sau khi thăm đơn vị Không quân, Bác căn dặn: “Các cháu đã đánh giỏi, bây giờ phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng nhất là GIẢI PHÓNG MIỀN NAM”.

Bác ơi, chúng con lớp người ra đi tập kết trên bến Bắc Cao Lãnh năm ấy đã thực hiện được trọn vẹn ý nguyện của Người./.



 

 

 
     
  Phạm Thị Toán ( báo Văn nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)












  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |