Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  11/07/2014  
  Đội ngũ trí thức chúng tôi đã trở về  
  Nhà tôi nghèo lắm, không có ruộng đất trâu bò, phải đi làm thuê làm mướn, trong năm thường thiếu ăn vài ba tháng. Khi tôi đang đi ở cho nhà địa chủ thì Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Cách mạng tịch thu đất ruộng của địa chủ theo Tây chia cho dân nghèo. Tôi đang đi ở cho nhà địa chủ bỏ về nhà tham gia thiếu nhi cứu quốc rồi dân quân tự vệ của xã, hăng hái cổ động tuyên truyền theo sự hướng dẫn của thanh niên, đi canh gác, bảo vệ trật tự an ninh trong xã.  
 
 

 

 

Phó tiến sĩ Nguyễn Văn Tường kể

 

          

Đầu năm 1947, tôi chính thức thoát ly, đi làm liên lạc cho cơ quan Tỉnh ủy Long Xuyên, tỉnh Long Châu Tiền đóng ở Chợ Mới rồi Hồng Ngự. Lúc ấy ông Huỳnh Chí Mạnh làm bí thư. Sau một thời gian, thấy tôi nhanh nhẹn, bác Hà Minh Cảnh là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nông dân cứu quốc Nam bộ đưa tôi về làm giao liên thuộc bộ phận Văn phòng của Hội, lúc đó đóng ở Mộc Hóa, có lúc di chuyển lên Mỹ An và Cao Lãnh. Cơ quan Hội đóng kế cơ quan anh Trần Bạch Đằng (lúc ấy anh Đằng là Bí thư Đoàn thanh niên). Tôi thường phải chèo xuồng nhận giao công văn có khi khoảng cách xa từ 15 đến 20km trên đồng nước, trong đêm mưa to gió lớn, bao hiểm nguy rình rập, muỗi mòng dày đặc nhưng tôi đều vượt qua được. Năm 1949, tôi là thư ký, văn thư của Ty Xã hội - Thương binh tỉnh Long Châu Tiền sau đó cấp trên cử đi học trường tiểu học kháng chiến Nguyễn Hữu Nghi. Lúc đầu đóng tại xã Tân Phú quận Chợ Mới. Sau mấy tháng máy bay oanh tạc dữ quá, trường chuyển lên Sa Rài, Hồng Ngự.

Sau khi mãn khóa vào tháng 11 năm 1950 tôi chuyển qua bộ đội ở đại đội 947, tiểu đoàn 311, trung đoàn Đồng Tháp thuộc tỉnh Long Châu Sa. Hiệp định Geneve được ký kết, tôi đang là tiểu đội trưởng, đại đội 950 cũng thuộc tiểu đoàn 311 Long Châu Sa thì được phân công làm đội trưởng tập hợp tất cả thương binh lại của tỉnh về để đi tập kết. Trung đội tôi tập hợp được gần 80 anh em thương binh. Từ Hồng Ngự cả đơn vị hành quân về Cao Lãnh, thương binh nhẹ thì đi bộ, thương binh nặng thì được khiêng cáng đưa xuống xuồng bơi. Cả trung đội tập hợp lại ở Hòa An. Ở đây anh em ở trong nhà dân, ăn uống thì bộ đội đi chợ tự nấu. Bà con xung quanh nơi đơn vị đóng quân rất thương anh em thương binh của mình. Có gì ngon lại múc từng tộ tới thêm vào khẩu phần ăn cho anh em, nhất là thương binh nặng và cùng chúng tôi chăm sóc, lau rửa vết thương cho anh em khiến bộ đội ai nấy rất cảm động.

Còn tôi, hai mươi bốn tuổi đời, tôi không vướng bận chuyện gia đình. Nhà nghèo phải đi ở đợ cho địa chủ từ rất sớm, sau khi tham gia cách mạng là thấy cuộc đời mình như chắp thêm cánh, tuy cũng cực khổ nhưng so với đi ở đợ thì chẳng thấm vào đâu. Và do đi hoạt động thoát ly suốt nên tôi cũng chưa quen ai, hứa hẹn cùng ai. Thời gian ở Hòa An có má và em ruột tôi xuống thăm trước khi tôi xuống tàu. Bà dặn dò tôi hoài được ra Bắc phải cố gắng học hành, phấn đấu thành tài để sau hai năm trở về Nam xây dựng lại quê hương. Do không phải đơn vị bộ đội trực chiến nên cả đơn vị ăn mặc bình thường, ai có gì mặc nấy, chúng tôi không được phát quân phục như bộ đội (chắc do ta không đủ để phát). Tôi chuẩn bị thêm đồ ăn, ít đường sữa và thuốc men loại cảm cúm, tiêu chảy, chống ói đem theo xuống tàu phòng hờ. Ở Cao Lãnh chưa đầy một tháng, vào chiều ngày 23/10/1954 chúng tôi hành quân xuống tàu há mồm của Pháp để chuyển ra tàu Liên Xô ở biển Cấp - Xăng Rắc (Vũng Tàu ngày nay) lúc 8giờ sáng ngày 24 tháng 10.

            Sau 3 ngày 3 đêm lênh đênh trên biển, biển những ngày này ít sóng, cũng có một số anh em không quen đi biển bị say sóng. Chúng tôi người khỏe lo cho người yếu, nhất là anh em thương binh nặng phải tập trung chăm sóc nhiều hơn, chúng tôi hiểu rõ trách nhiệm phải đảm bảo an toàn tuyệt đối, trong khả năng có thể cho tất cả thương binh trong suốt hành trình trên biển. Dù cũng là thương binh khá nặng nhưng với trách nhiệm được giao, tôi cứ phải chạy tới chạy lui trên tàu xem anh em ăn uống, tình hình sức khỏe của từng người,…

Tàu cập bến Thanh Hóa vào lúc 11 giờ trưa ngày 27/10/1954. Chúng tôi làm thủ tục giao thương binh cho bộ phận tiếp nhận trên bờ. Sau đó đơn vị được xe quân đội chở về huyện Tiền Hải, 3-4 tháng sau được lịnh trên hành quân về huyện Kiến Xương (tỉnh Thái Bình) chống di cư của bọn phản động trong tôn giáo. Đầu năm 1955 tôi về trung đội trinh sát thuộc trung đoàn 658. Sau đó được đi học các trường học sinh miền Nam, trường Bổ túc công nông Khu Tự trị Thái Mèo ở tỉnh Sơn La, sau chuyển về Hà Nội rồi Phú Thọ. Tốt nghiệp phổ thông ở trường bổ túc công nông Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh), tôi lại được cử đi học lớp sĩ quan hóa học ở trường Lục quân Sơn Tây. Vào tháng 8/1959 tôi là chuẩn úy phụ trách trung đội trinh sát bức xạ hóa học, đại đội 39, binh chủng hóa học thuộc quân khu Tây Bắc. Chung đơn vị tôi lúc đó có ông Bùi Quang Minh, Nguyễn Thanh Tịnh thuộc đơn vị trinh sát bức xạ hóa học.

Bởi bị thương tật nặng, các vết thương hoành hành, sức khỏe không đảm bảo phục vụ lâu dài trong quân đội nên cuối năm 1960 tôi chuyển ngành đi học tiếp. Do từ nhỏ không được học hành, vào đơn vị chỉ học lóm, nên khi được đi học tôi rất cố gắng nỗ lực tranh thủ thời gian mà học. “Có công mài sắt có ngày nên kim”, trong suốt thời gian học tại trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, khoa kinh tế nông nghiệp tổng cộng phải học 36 môn thì khi thi hết môn có 35 môn tôi được điểm 5, chỉ có 1 môn được điểm 4 (lúc ấy điểm 5 là điểm tối đa, tương đương điểm 10 bây giờ). Sau khi tốt nghiệp đại học, do học giỏi, trường giữ lại và cho tôi học thêm bằng hai đại học Mác Lê Nin, môn triết học. Học xong tôi về trường làm giảng viên bộ môn triết học trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội. Năm 1972, tôi được đi nghiên cứu sinh triết học ở trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương.

Giải phóng miền Nam, đầu năm 1976, tôi được điều về về trường Nguyễn Ái Quốc miền Nam. Lúc ấy tôi công tác chung với các anh: Năm Trang, Tư Quốc, Sáu Cầm, Hai Trinh… Một thời gian sau trường này giải thể, thành lập các trường đào tạo cán bộ cho các tỉnh phía Nam: Trường 7 (chuyên đào tạo cán bộ công thương nghiệp); Trường 8 (chuyên đào tạo cán bộ nông nghiệp); Trường 9 (chuyên đào tạo cán bộ tuyên huấn) và Trường tổ chức kiểm tra Trung ương. Tôi về làm giáo viên của Trường 7. Năm 1979, tình hình Pôn Pốt nổi lên, việc đào tạo cán bộ công thương nghiệp ở trường 7 được giao về Trường 8, chúng tôi được giao nhiệm vụ đào tạo chính trị cho cả cán bộ lãnh đạo Campuchia. Tôi đã từng dạy lớp cán bộ cao cấp, có nhiều lãnh đạo như: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (lúc ấy ở Cà Mau), ông Hunsen, ông Mười Kỷ (Bí thư Bạc Liêu)…… Tới năm 1987, do thiếu cán bộ, tôi được Trung ương điều về Hiệu trưởng Trường Đảng Phạm Hữu Lầu của tỉnh Đồng Tháp cho đến năm 1990 thì về hưu trở về thành phố Hồ Chí Minh sinh sống.

Nhìn lại cả cuộc đời, phần lớn thời gian tôi được nhà nước cho đi học. Từ anh học trò nghèo lớp 2 xuống tàu tập kết ở bến Bắc Cao Lãnh, một chuyến đi thật ý nghĩa. Trở về, tôi trở thành phó tiến sĩ triết học Mác Lênin rồi giảng dạy, làm công tác quản lý ở các trường đại học danh tiếng trong nước. Cám ơn Đảng, Bác Hồ đã đào tạo bồi dưỡng, trang bị cho chúng tôi có đầy đủ kiến thức, ở tất cả các lĩnh vực quan trọng để khi giải phóng miền Nam, đội ngũ trí thức hùng hậu chúng tôi đã trở về tiếp quản, cơ bản đủ cán bộ chính trị, quân sự, kinh tế để cho guồng máy mới vận hành nhịp nhàng, thông suốt trong những năm đầu mới giải phóng, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng bộ máy chính quyền ở các tỉnh miền Nam hòa chung cả nước phát triển ngày càng đi lên “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như ý nguyện của Bác Hồ kính yêu lúc còn sống./.

 



 
     
  Phạm Thị Toán ( báo Văn nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |