Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  11/07/2014  
  Chúng tôi làm ở Nhà Bảo sanh  
  Vào những năm 1952-1953, tôi đã lớn, thấy tôi nhanh nhẹn nên các ông Bảy Lãm (ông già nuôi tôi), ông Tư Hữu, ông Sáu Thượng… thường xuyên kêu đi giao đưa thơ, liên lạc qua lại với ông Ba Vạn Kiếp, lúc đó ông Ba ở xóm Bún, phường III, thành phố Cao Lãnh bây giờ. Khoảng vài ngày tôi đi tới đó một lần. Rồi từ chỗ ông Ba Vạn Kiếp, các thư từ này sẽ đưa ra Cái Dừng tới vùng sâu của huyện Cao Lãnh, Mỹ An. Tôi không biết chi tiết các bức thư nhưng sau nghe nói nội dung báo cáo tình hình địch ta, tổ chức các ngày lễ lớn, tình hình địch hành quân đến đâu, quân số, trang bị vũ khí đạn được như thế nào để Tỉnh ủy nắm và chỉ đạo kịp thời phong trào đấu tranh ra vùng địch. Nhà ông Ba Vạn Kiếp lúc ấy như là một nút giao liên trung tâm giữa Tỉnh ủy và ngoài vùng địch chiếm đóng.  
 
 


            Cô Lê Thị Thưa kể

 


Vào năm 1955 - 1956, sau khi bộ đội xuống tàu tập kết, tình hình lúc ấy ở miền Nam rất căng thẳng, khó khăn cho cách mạng. Kẻ thù bắt bớ hàng loạt những người cách mạng còn ở lại, gia đình những người kháng chiến cũ, điển hình ở thị xã Cao Lãnh, đồng chí Mai Văn Khải lúc đó là Chi ủy viên chi bộ xã Mỹ Ngãi bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man nhưng không khai thác được gì, tức tối chúng bỏ đồng chí vào bao bố rồi dìm xuống sông chết…..

Tôi vào Nhà Bảo sanh Hòa An cùng một số chị em vừa học nghề sanh, vừa hoạt động cách mạng. Chúng tôi được quán triệt: Nội dung đấu tranh trong thời kỳ nầy, chủ trương của ta là cố gắng kiềm chế, không được manh động, chúng càng tìm cớ để trả thù, chủ yếu buộc địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève (đặc biệt điều 14, mục C: Không được bắt bớ, trả thù những người kháng chiến cũ); đấu tranh chống địch phá hoại, gìn giữ thành quả của bộ đội xây dựng trong một trăm ngày trước khi xuống tàu ra Bắc như: Đài Liệt sĩ, ngôi mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sanh Huy, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữ đất cách mạng đã cấp cho dân….

Nhà Bảo sanh Hòa An cũng là một trong những trạm giao liên quan trọng của ta, cách đồn địch không xa. Là nơi bộ đội trước khi tập kết đã làm cho cán bộ nữ thoát ly hoạt động bất hợp pháp và vợ cán bộ, vợ bộ đội ở đó sanh đẻ như: chị Năm Vạn sanh ở đó hai lần, vợ ông Bế, chị Năm Mai, má anh Quốc Trung, má anh Lê Khôi, ….. đều về đây sanh con. Lúc đầu em tôi là Trưởng Nhà hộ sinh, sau em bị địch nghi ngờ phải hoạt động thoát ly luôn, giao cho tôi ở lại nơi đây, giữ thông suốt liên lạc với cách mạng. Hoạt động tới năm 1960 tôi được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng.

Tôi cũng hay suy nghĩ không hiểu sao tổ chức giao một loạt các chị em vào làm và hoạt động trong các nhà bảo sanh như tôi, chị Phạm Thị Ngọc Sương (vợ anh Tám Bé), chị Năm Mai (vợ anh Mười Đồng), bà Hai The (vợ anh Năm Hải, dì Út Khéo, …..Có lẽ nơi đây kẻ địch ít để ý, tạo được vỏ bọc khá kín đáo, an toàn cho chúng tôi, nơi bà con thường lui tới nên công tác dân vận khá thuận lợi. Vậy mà nó tồn tại gần 10 năm trời, từ khi bộ đội xuống tàu đi tập kết ra miền Bắc.

Ngoài đi giao liên cho các chú, các anh lãnh đạo, tôi còn được tổ chức giao động viên tài chánh cho cách mạng. Công việc cũng đơn giản. Tôi tới nhân dân, vận động bà con góp tiền ủng hộ cách mạng để nuôi quân, mua võ khí đạn dược cho cách mạng. Sau khi nhận được tiền của dân, tôi nộp cho ông Sáu Thượng để chuyển vô căn cứ. Chuyến ra, các anh sẽ gởi biên lai có ghi rõ số tiền dân ủng hộ để tôi chuyển lại tận tay cho bà con. Tuy phải chuyển giấy tờ, biên lai qua lại giữa vùng ta và địch khó khăn, qua nhiều người, ở nhiều nơi nhưng ngay từ những ngày ấy, mỗi khi bà con ủng hộ cách mạng, chúng ta làm giấy biên lai rất chặt chẽ, không hề bị thất thoát trường hợp nào để dân nghi ngờ, bà con luôn tin tưởng cách mạng. Tôi nhớ mỗi lần tôi vận động khoảng 100 - 200 đồng Đông Dương. Số tiền mỗi lần vận động tuy không lớn lắm nhưng trong điều kiện lúc ấy bà con mình ai cũng nghèo, cũng khổ nên những đồng tiền nhỏ nhoi, nghĩa tình ấy của dân thật đáng quí.

Cho tới năm 1963 địch bắt đầu nghi ngờ Nhà Bảo sanh nầy và bắt buộc phải dỡ bỏ dời đi nơi khác bởi có rất nhiều các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Kiến Phong, nhiều đồng chí cách mạng đã từng qua lại, dừng chân ở nơi đây hội họp. Riêng tôi, chúng quản thúc, theo dõi gắt gao và cấm không cho tôi được làm ở Nhà Bảo sanh nữa. Tôi phải trở về nhà nhưng vẫn giữ liên lạc với tổ chức, nuôi giấu các anh Mười Đồng, Tư Hữu, Bảy Lãm, ….ngay trong nhà.

Tôi chỉ có một đứa con gái tên Minh Thanh (sau này công tác ở Sở Tư pháp tỉnh), chồng chết khi con mới được tám tháng, tôi ở vậy nuôi con cho tới khôn lớn. Vào năm 1949 con tôi đi học, cũng tham gia đấu tranh, được kết nạp Đảng năm 1964 và là một trong những người cốt cán lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh Trường Trung học Công lập Kiến Phong tại thị xã Cao Lãnh cho tới ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975 cùng với các anh Hồng Nhân, Xuân Nghĩa, Quốc Trung…... Tôi bị địch bắt ba lần. Hai lần đầu chúng nghi ngờ tôi, còn lần thứ ba là do con tôi hoạt động cách mạng. Ra tù tôi lại hoạt động, liên tục tới giải phóng miền Nam. Sau giải phóng, tôi công tác tại phòng Thương binh - Xã hội thành phố Cao Lãnh cho tới khi về hưu, năm 1979.

Giờ đây sắp bước qua tuổi 90, suy nghĩ những chuyện đã qua, tôi không hề hối tiếc, cả cuộc đời tôi đi theo cách mạng, và luôn xứng đáng là người Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

 
     
  Phạm Thị Toán ( báo Văn nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)












  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |