Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  18/07/2014  
  Bảy năm sau ngày chia tay ấy  
  Tôi không phải là dân Đồng Tháp mà sanh ra ở Phú Châu tỉnh An Giang. Tham gia cách mạng từ năm 1950, khi vừa tròn hai mươi tuổi. Còn hỏi tại sao tôi đi làm cách mạng, là thanh niên sinh ra trong hoàn cảnh “nước sôi, lửa bỏng” như lúc ấy thì tôi nghĩ: rất nhiều người như tôi cũng sẽ xung phong đi tòng quân, giết giặc cứu nước mà thôi, chẳng cần cán bộ phải tới vận động hay giác ngộ đâu.  
 
 


 

Ông Võ Nhị Năm kể

Lúc ấy tôi được cấp trên giao nhiệm vụ là cán bộ tình báo (còn gọi quân báo) thuộc huyện đội Phú Châu. Tôi hoạt động công khai nhưng gia đình lúc ấy cũng không ai hay biết những việc tôi làm. Nhiệm vụ chính của tôi là nắm tin tức tình hình di chuyển quân, lực lượng hiện có của địch trong đồn hàng ngày rồi báo cho bộ phận phụ trách quân báo của huyện. Cách thức thông báo cũng khá đơn giản. Tin tức nắm được tôi viết thơ rồi cẩn thận tới “hộp thơ”, để vô một gốc cây có bọng theo qui ước từ trước, sau đó đi luôn không được ngoái lại. Vì sự an toàn của người gởi và người nhận thư nên dù đã gởi đi khá nhiều thơ kiểu này nhưng cho tới tận bây giờ, chưa bao giờ tôi gặp hay biết người đến lấy những lá thơ này để chuyển về huyện đội Phú Châu là ai, có liên quan gì tới mình hay không?

Tới cuối năm 1951 tôi được thoát ly khỏi địa phương lên căn cứ của huyện đội Phú Châu đóng tại xã An Hòa Xương, Tân Châu. Vùng này là khu vực dân sinh sống bình thường, kẻ địch ít đụng tới vì khá xa khu vực đồn bót của chúng. Cho tới năm 1952, tiểu đoàn 311 tới huyện đội Phú Châu tuyển quân, rút tôi về Tỉnh đội Long Châu Sa và tôi chính thức trở thành chiến sĩ của đại đội 948, tiểu đoàn 311 từ lúc ấy. Đại đội tôi thuộc lính bộ binh và chúng tôi thường phải hành quân di chuyển liên tục qua rất nhiều nơi để đảm bảo an toàn, bí mật cho đơn vị, tránh sự dòm ngó của kẻ địch bởi nếu phát hiện dấu hiệu có đơn vị bộ đội chủ lực thôi thì chỉ trong một thời gian rất ngắn, cả đàn máy bay sẽ ào ào kéo tới oanh tạc, thả bom san mặt đất thành bình địa. Lúc ấy đơn vị hay hành quân từ Cao Lãnh tới Mỹ An rồi vòng lên Hồng Ngự. Sau một thời gian ngắn lại quay trở về vùng Gãy Cờ Đen (xã Trường Xuân) - căn cứ kháng chiến của cách mạng mà có một cái tên là lạ. Nghe kể lại đã lâu rồi khi đào kinh dẫn nước rửa phèn, người ta cắm trên bờ một cây cờ màu đen lấy mốc để đào cho thẳng. Không hiểu vì sao cây cờ bị gãy và biệt danh Gãy Cờ Đen ra đời từ đó. Không hiểu thực hư câu chuyện này đúng sai như thế nào nữa.

Hiệp định Genève được ký kết, đang ở trong kinh Nguyễn Văn Tiếp, chúng tôi được lịnh hành quân về xã Hòa An ở trong vòng 100 ngày để chờ xuống tàu tập kết ra Bắc. Nghe lịnh đi, tôi cũng băn khoăn vì khoảng cách gần hai ngàn cây số nhưng nghĩ tôi được ra miền Bắc - miền đất mơ ước, có Bác Hồ, được tự do, bộ đội chúng tôi sẽ được huấn luyện một cách bài bản, chính quy, rồi chỉ hai năm sau sẽ trở về, thời gian không có là bao. Thế là tôi lại nôn nao muốn ra đi….

Thời tiết đã chuyển sang mùa mưa, sau những cơn mưa dầm nắng vàng bừng lên thật đẹp. Dọc theo hai bờ sông Cao Lãnh nhà nào cũng treo cờ đỏ phấp phới bay lồng lộng trong gió. Bà con cô bác đổ ra đường mừng ngày hội lớn của dân tộc. Chúng tôi được ngủ, nghỉ ngay trong nhà dân nhưng đơn vị cử người đi chợ mua thịt, cá, mắm muối và gạo, về tự nấu ăn bởi bà con mình đa phần rất nghèo.

Tôi chỉ là chiến sĩ, không phải là sĩ quan chỉ huy nên thỉnh thoảng cùng anh em tham dự những buổi mít tinh lớn mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, xem triển lãm các hình ảnh chiến thắng của quân dân ta đặt tại nhà việc xã Mỹ Trà (trụ sở Tề ngụy), nghe đờn hát do ta biểu diễn. Ở trong nhà dân, chúng tôi hàng ngày có dịp là nói chuyện với bà con về những điều khoản cụ thể trong bản Hiệp định, về Tổng tuyển cử thống nhất đất nước chỉ sau đó hai năm - vào năm 1956, tuyên truyền bà con phải cảnh giác trước âm mưu phá hoại của kẻ địch, vận động nhân dân phải đoàn kết chặt chẽ. Nhưng lúc ấy tôi thấy dù sống trong hòa bình, bà con cô bác vẫn lo, bộ đội kéo nhau đi hết liệu sắp tới có yên ổn không, khi nào thì mới được sum họp Nam Bắc…. Chúng tôi đã nhắn nhủ với bà con hãy tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng và nhất định chúng tôi sẽ trở về. Một trăm ngày tập kết chuyển quân ở thị trấn Cao Lãnh quả là những ngày hội lớn của cả dân tộc. Tới ngày ra đi, đơn vị đi bộ hành quân ra bến Bắc. Gia đình đang ở Châu Đốc, tôi không cho hay nên khi xuống tàu không có ai trong gia đình xuống Cao Lãnh. Nhưng có rất đông bà con đã ra đưa tiễn bộ đội như những người thân ruột thịt nên tôi cũng đỡ tủi. Khu tập kết cờ hoa rực rỡ, khẩu hiệu rợp trời. Trên bờ đông ghẹt là người, muôn ngàn cánh tay giơ hai ngón đưa lên như một lời ước hẹn sau hai năm sẽ gặp lại. Nhiều cô gái vừa quệt nước mắt, vừa đưa khăn tay vẫy theo rối rít cho đến khi ở dưới tàu nhìn vào bờ mờ dần, sau không còn thấy nữa. Con tàu LCM há mồm của Pháp đưa chúng tôi ra Ô Cấp. Tại đây chúng tôi được chuyển qua tàu Kilinxki của nước bạn Ba Lan đang đợi sẵn để tiếp tục cuộc hành trình ra bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa).

Thế mà mãi bẩy năm sau, tôi còn nhớ vào ngày mùng 6 tháng 6 năm 1961 đơn vị tôi mới được lịnh trở về Nam. Lại nói tới chuyện đi về. Hầu hết anh em đi tập kết ai cũng mong ngóng ngày trở về quê hương. Chỉ có một số rất ít do sức khỏe yếu sợ đi bộ không nổi hoặc một số bộ đội ra Bắc lấy vợ đã ổn định cuộc sống thì ở lại đi những chuyến sau. Chúng tôi được đưa lên xe tải, xung quanh phủ bạt kín bưng. Xe chạy tới tỉnh Nghệ An, cả đoàn được vô nhà khách của Văn phòng Tỉnh ủy nghỉ và sáng hôm sau tới Hà Tĩnh, theo đường mòn Hồ Chí Minh, qua Lào... So với lúc ra đi thì đường về cơ cực hơn nhiều, chậm hơn nhiều vì có nhiều đoạn đường ở trong này phải lội bộ, trèo đèo, lội suối gần cả năm trời chúng tôi mới về tới cơ quan của Tỉnh đội Kiến Phong (nay là Đồng Tháp). Được trở về khiến tất cả chúng tôi vui mừng đến trào nước mắt nên chẳng còn thấy mệt mỏi gì nữa.

Thật hạnh phúc vì tôi cũng còn kịp hòa mình vào cuộc chiến đấu kiên cường để ngày thống nhất cận kề hơn, nhưng cũng phải tới mười bốn năm ròng lời ước hẹn mới trở thành hiện thực. Đi qua cuộc chiến tranh, dù không còn nguyên vẹn nhưng tôi cũng còn may mắn hơn rất nhiều đồng đội của tôi đã không kịp biết đến thế nào là độc lập, là hòa bình, là tự do, là hạnh phúc như mong ước của cả dân tộc trong ngày chia tay cách đây sáu mươi năm…..Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1976 tôi được chuyển ngành về làm Phó Giám đốc Sở Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Tháp cho tới năm 1992 nghỉ hưu tại quê vợ ở xã Mỹ Hiệp huyện Cao Lãnh.

Cám ơn mảnh đất này đã cho tôi có thêm một quê hương.


 

             

 
     
  Phạm Thị Toán ( báo Văn nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |