Thứ Hai, ngày 21 tháng 5 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  15/12/2014  
  Con đường dẫn tôi vào hội họa  
   
 
 

tác giả: Phan Hữu Thiện

Hồi kí họa sĩ PHAN HỮU THIỆN

Nguyên Giám đốc Bảo tàng Tôn Đức Thắng Tp HCM

Tuổi thơ tôi ở quê nghèo, quần quật suốt năm này sang năm nọ chỉ có chăn trâu, cắt lúa, cắm câu bắt cá, bẫy chuột… cực nhọc, thiếu thốn đủ thứ, trong đó có thiếu học.

Năm 1964, cơ quan Tuyên huấn tỉnh Kiến Phong (nay là Đồng Tháp) về xây dựng căn cứ kháng chiến ở ấp tôi. Tiểu ban Văn nghệ đóng ở xóm tôi. Nhà tôi dược tổ hội họa ở. Mặc dù chia ra như vậy chứ thực tế Tiểu ban Văn nghệ hồi đó chỉ có khoảng chục người trở lại chứ không nhiều. Hàng ngày các chú, các anh làm việc thì tôi cũng rề rề đến xem, nhất là chú Ba Tý (còn gọi Thới An), chú vẽ hay lắm làm tôi mê mẩn. Tới giờ tôi cũng không biết vì chú thứ ba trong gia đình và sinh vào năm tý nên gọi là ông Ba Tý hay vì khuôn mặt và nhất là cái miệng của chú hơi nhọn mà mấy chú, mấy bác đặt cho cái tên như vậy. Lúc rảnh rỗi tôi lê la hết tổ hội họa qua tổ nhiếp ảnh, thậm chí còn tò mò sang các Tiểu ban khác nữa. Tối đến tôi còn qua tổ nhiếp ảnh để ông Tám Ánh dạy học tráng film, rọi ảnh. Tất cả các khâu đều làm thủ công, buồng tối là cái hầm trảng xê và đi đâu tôi cũng được các bác, các chú và các anh yêu thương.

Sự gắn bó với các chú các anh bên cánh văn nghệ đã làm tôi mê nhất là mỹ thuật. Hồi đó khó khăn lắm, không được như bây giờ, nhất là ở quê như tôi làm gì có giấy để vẽ, còn đất sét thì vô tư, nên những hôm đi chăn trâu tôi thường móc đất nặn tượng. Tượng anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chân dung các chú trong tiểu ban…, nặn xong phơi khô đem về giấu trong kẹt bồ lúa, mắc cỡ không dám cho ai xem. Một hôm không biết chú nào phát hiện, lôi ra cho mọi người xem…thế là tôi được các chú để mắt tới. Từ đó được chú Ba Tý và anh Trần Điệp chỉ dẫn, cho giấy tôi vẽ, rồi chú Mười Long, chú Sáu Cường chỉ tôi kẻ chữ để in báo…Vậy là tôi trở thành thành viên của Tiểu ban Văn nghệ từ lúc nào cũng không nhớ nữa. Đến khi chuyển “cứ” đi nơi khác, hành quân đêm tôi cũng bơi xuồng cùng các chú, đêm đến cũng tham gia đào hầm bí mật, giấu từng cục đất, ban ngày đào công sự như một nhân viên thực thụ của Tiểu ban Văn nghệ, Ban Tuyên huấn tỉnh Kiến Phong.

Đến một ngày, ngày đau đớn nhất của tổ mỹ thuật, tôi còn nhớ ngày 04/12/1967, tổ hội họa hy sinh không còn một ai: Nguyễn Văn Thới (Ba Tý), Trần Điệp và Lê Văn Chương (Lê Ba - Ba Chương) từ “R” xuống và cả chú Sáu Cường. Anh Hai, chồng chị Hai tôi cũng hy sinh trong trận này, trận 37 tàu (ta chống càn và đã tiêu diệt 37 tàu mặt dựng - tàu sắt và tiêu diệt cả ngàn tên giặc trên kênh Nguyễn Văn Tiếp B nên thường gọi tắt là trận 37 tàu). Trong trận này, anh Nguyễn Minh Trí em họa sỹ Nguyễn Toàn Thi, bắn 10 trái B40, diệt 9 tàu địch chở đầy lính, vì bắn nhiều với địa hình không cho phép nên đã chảy máu tai rồi hy sinh, sau được phong Anh hùng Quân đội. Sau trận này, bác Chín Hương, Ban Tuyên huấn tỉnh, bút danh là nhà thơ Lý Thuận Khanh, có bài vè có đoạn rằng: “…Hò ơ ai đến Kiến Phong ra sông Cửu Long mà trông xác giặc, như bèo trôi thúi hoắc, cá mập to mập lắc nó cũng chê mồi. Kiến Phong đồng rộng sông dài. Tháp Mười bao nhiêu ngọn cỏ thì du kích bao nhiêu người đứng lên…”. Thời gian này chiến trường ở đây quá ác liệt, ngoài máy bay bắn phá thì pháo giặc bắn liên hồi. Tuổi ăn tuổi ngủ trẻ con như bọn tôi mà đêm đêm nằm ngủ tay luôn nắm lấy mép mùng để nhảy cho kịp xuống chiến hào khi pháo nổ, biết nhận biết trái pháo nào nổ gần mà nhảy, trái nổ xa thì vẫn nằm ngủ, môi trường tạo nên kinh nghiệm đó. Vì đêm nào nó cũng bắn pháo, nếu không đoán được thì sẽ phải thức suốt đêm, vì mỗi lần nhảy xuống chiến hào hay công sự vào mùa nước thì đồ đâu mà thay cho đủ? Tuy trẻ nhỏ, nhưng trong thực tế đã dậy, trang bị một số kiến thức, kinh nghiệm để tồn tại trong chiến tranh.

Sang năm 1968, sau đợt hai Mậu Thân, trên “R” cử hai họa sỹ Nguyễn Thanh Châu và Nguyễn Ngoãn xuống chiến trường, được bố trí về Tiểu ban Văn nghệ. Lúc này địch phản công quyết liệt, đêm thì chúng dùng trực thăng đi soi (máy bay trực thăng rọi đèn pha, thả trái sáng - hỏa châu và bắn thượng liên 4 nòng, bắn roc- ket tràn lan, cứ thấy bụi rậm là bắn, những dòng đạn đỏ trong đêm nhìn tua tủa như sợi dây xích đỏ lừ, dài nhằng liên tục phát ra từ những chiếc trực thăng, ngày thì đầm già túc trực trên bầu trời, đảo tới đảo lui thấy vật gì nghi có người là bắn hoặc gọi phản lực lên ném bom. Và cứ vài hôm chúng cho trực thăng nhảy dò một lần, càn đi quét lại “nhừ tử” vùng giải phóng. Tôi tuy còn nhỏ nhưng được mấy chú tín nhiệm, khi giặc càn vào giao gài đạp lôi, gài chông và khi xuống hầm bí mật là người xuống sau cùng để ngụy trang nắp hầm. Một hôm các chú đi công tác, giao tôi ở nhà lo cho hai ông họa sỹ trên “R”. Cũng như thường lệ, 4 giờ sáng chúng tôi phải dậy, xếp mùng mền, đồ đạc rồi đem giấu hết, lo cơm nước gọi là chuẩn bị chống càn. Trời hừng sáng bắt đầu nghe vọng từ xa ì ầm tiếng động cơ máy bay trực thăng rền vang, một lát sau, chiếc đầm già bay qua rồi đảo lại, một tiếng rét …ầm, một trái roc-ket nổ tung dựng thành cột khói màu tím bốc lên, 3 chiếc máy bay phản lực lao xuống ném bom liên tiếp. Tiếng bom vừa dứt, một bày trực thăng xếp hàng dọc như hình một con rắn hổ từ cao hạ dần xuống và lính từ máy bay nhảy ra. Lúc này một tốp trực thăng khác bắn áp đảo vào khu vườn trong làng ven kinh. Tôi hướng dẫn hai ông họa sỹ xuống công sự, rồi đi gài chông và đạp lôi xong, leo lên cây, xem hướng quân nhảy dò xuống ngoài đồng sẽ càn vô xóm nào. Thấy nó không vô chỗ mình nên không chỉ hầm bí mật cho hai ông. Lúc nó đổ quân, bắn rát hai ông sợ quá hỏi tôi “Hầm bí mật đâu mậy”, tôi nói “Không biết”, vì thực hiện lời dặn của mấy chú, chỉ thấy khi nào chắc chắn nó càn vào chỗ mình thì mới mở nắp hầm, nhằm đảm bảo bí mật cho hầm bí mật sử dụng lâu dài an toàn. Lúc đó hai ông chửi mấy chú “dắt con bỏ chợ”. Sau này mấy chú kể lại cho hai ông nghe, mà mình cũng tự hào tuy còn nhỏ đã được tín nhiệm như vậy. Ở chung một thời gian hai ông họa sỹ thấy tôi có năng khiếu vẽ nên đề nghị lãnh đạo cho tôi lên “R” học. Được sự ủng hộ của chú Mười Long, chú Sáu Công Đoàn, anh Quốc Việt, kể từ ngày 5/3/1968, tôi khai lý lịch để đi lên Trung ương Cục học và ngày đó tôi lấy làm ngày tham gia cách mạng.

Lên “R”,  tỉnh cử 3 anh em đi học, lớn nhất là anh Trần Thụ, kế đó là Minh Sơn, tôi là đứa nhỏ nhứt, vừa nhỏ tuổi vừa nhỏ người, năm đó tôi 17 tuổi, cân nặng 39 kg, từ Đồng Tháp Mười, mặc bộ đồ bà ba đen lên đường. Theo giao liên, vượt qua “đồng chó ngáp”, đêm hành quân ngày tìm chỗ trú ẩn, đi mất hơn một tháng đến rừng Nhum - Tây Ninh, lên đến nơi phải ở lại B16 hơn nửa tháng (trạm cuối cùng để vào Ban Tuyên huấn Trung ương Cục), vì trên “R”, trực tiếp là Phòng Hội họa Giải phóng miền Nam chưa có mở lớp hội họa nên đâu có ai chiêu sinh mà lên học. Nhưng vì đã lỡ vào căn cứ rồi thì phải nằm chờ. Cuối cùng cũng được lãnh đạo giải quyết: Anh Trần Thụ xin về lại tỉnh vì có người yêu sắp cưới, anh Minh Sơn về Phòng Hội họa, tôi về B2. Về B2 tôi được phân công ở đội bảo vệ của anh Hiến, Quyền… (ngoài anh Hiến đội trưởng còn sống hai anh kia sau đó đã hy sinh). Hàng ngày canh cổng, đi xây cứ, đào chiến hào, đắp công sự… Một hôm, nghe nói có tin tình báo báo máy bay B52 sẽ đánh vào khu vực B11 (Phòng Hội họa Giải phóng). B11 sơ tán qua B2 (B2 - Tiểu ban Văn nghệ R, là cơ quan cấp trên của B11). Đến B2, anh Cổ Tấn Long Châu, phó Phòng Hội họa qua tìm tôi, anh nói “Hôm rồi nghe nói có thằng nhỏ lên học xem nó ra sao”, gặp tôi anh hỏi “Mầy có vẽ gì không đưa tao coi”. Đi lên “R” để học giờ bắt ngồi làm lính bảo vệ cũng buồn, nên có vẽ bậy bạ mấy bức ký họa đưa cho anh Long Châu xem, xem xong anh nói “Thằng này vẽ được” thế là ảnh đề nghị lãnh đạo Tiểu ban (B2) đổi tôi về B11, anh Sơn về B2. Đúng là số phận!

Về B11 tôi được biên chế vào tổ khắc gỗ, anh Trần Nhất Tâm làm tổ trưởng và tôi được đưa vô đội du kích cơ quan, nhiệm vụ chuyên môn là vừa học vừa làm khắc gỗ. Công việc thường ngày là: sáng sớm cùng một tổ du kích đi tuần tra cảnh giới ngoài Trảng Tranh - Trảng Cố Vấn và xung quanh cơ quan xem đêm qua địch có thả biệt kích vào căn cứ ta không. Ở trảng tranh, cỏ tranh và cây sặt (giống như cây đế) cao 2- 3mét, tôi thì nhỏ đi lụp sụp trong đám cỏ đầy sương mù mờ ướt lạnh, tay cầm cây súng trường Đức, so với  tôi thì nó quá dài và cũng quá nặng nhưng phải ôm nó mà đi. Tiếp theo là ăn cơm. Cơm nấu là loại gạo dự trữ để lâu nên luôn bị mốc và không được ăn tự do, chị nuôi phải lường mỗi suất lưng một ca inox Mỹ. Thức ăn thường ngày của chúng tôi lúc này là lá bứa nấu với muối cục để vô ít đường chảy (rỉ đường), và ớt bột. Chan vô cơm, ăn chua chua ngòn ngọt mằn mặn và cay cay. Từ bé, sợ cay tôi không dám ăn ớt, nhưng giờ không ăn thì ăn cái gì!? Hơn nữa mấy chú nói cố gắng ăn để chống sốt rét. Phải ăn. Lâu lâu cũng có hôm được ăn với cá khô, nhưng cá khô cũng đã lên dầu, cứng ngắc (gọi là ăn củi mục). Ăn xong rồi vào việc, có thể đi cưa cây làm củi, đào chiến hào, tải gạo, đi tiếp phẩm, học vẽ ký họa, học khắc gỗ, học cách cưa ghép gỗ (lòng mức) để làm bảng khắc… tối đến sinh hoạt văn nghệ, học chính trị về khuya thay ca nhau trực bảo vệ cơ quan suốt đêm. Công việc lanh quanh cứ thế. Đến khoảng giữa năm 1969, Trường Văn nghệ (B2/5) được mở, các anh chị từ các tỉnh, bộ đội được chiêu sinh về học. Lớp mở dạy đủ các môn học: viết văn, sân khấu, âm nhạc, mỹ thuật, cải lương, …  Tôi được cơ quan cử đi học lớp mỹ thuật. Lớp này do họa sỹ Lê Lam dạy chính và họa sỹ Cổ Tấn Long Châu, điêu khắc gia Nguyễn Thái Bình cũng có tham gia dạy. Học xong mọi người trở về đơn vị, trên đường về chưa tới đơn vị, anh Hải ở Bà Rịa đã hy sinh.

Khi trở về cơ quan, với một ít kiến thức, kỹ năng chuyên môn đã được trang bị chúng tôi rất hứng khởi. Bắt đầu có thể tự tin vẽ ký họa, minh họa sách báo và sáng tác tranh cổ động. Biết dùng kỹ thuật biểu diễn trên bảng khắc gỗ, diễn tả được những nét cọ mềm mại như vẽ mực nho trên giấy. Kỷ niệm đáng nhớ là lần đầu tôi được phân công cùng các họa sỹ Phạm Đỗ Đồng, Phạm Sỹ, Võ Thanh Hoàng, Huỳnh Măng (anh Huỳnh Măng ở Long An lên) đi trang trí lễ lớn, long trọng, đó là lễ truy điệu Bác Hồ do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức. Trong khu rừng rậm ở biên giới Việt Nam - Campuchia, một hội trường lớn có thể chứa hàng trăm người được dựng lên, anh Huỳnh Măng (Hai Măng) một chuyên gia chạm khắc bậc thầy được phân công chạm chiếc lư hương thật to bằng gỗ lim vừa được anh em cưa xuống, anh Đồng, Sỹ, Hoàng và tôi thì cắt chữ dán băng rôn. Khi mọi thứ đã xong, lãnh đạo duyệt lại nội dung thì câu khẩu hiệu có chữ sai. Sai chữ nào, do ai thì chưa biết, nhưng chúng tôi là người thực hiện phải chịu trách nhiệm. Chết, đứa nào cũng run vì nó ảnh hưởng đến chính trị, nguy hiểm lắm nếu bị kết tội. Chú Sáu Lăng (Bùi Kinh Lăng), xanh mặt nhất vì chú là người trực tiếp chỉ đạo chúng tôi. Câu khẩu hiệu do một vị lãnh đạo nào đó viết tay đưa chúng tôi thực hiện, thực hiện xong thì vứt nó luôn. Mọi người tỏa ra xung quanh chỗ chúng tôi làm việc để tìm. Anh Đồng thấy có một mẩu giấy vo tròn ném ngoài rừng, nhặt lên mở ra, mừng quá, đúng nó đây rồi. Té ra chữ sai ở đây là do lãnh đạo chứ không phải bọn tôi. Thế là ổn rồi, mừng mình vô tội, giờ chỉ còn mất công làm lại mà thôi. Trong hội trường giờ thì lộng lẫy, pla-phong được căng bằng vải nhìn lên thênh thang cứ như trần nhà đúc, mặc dù bên trên nó dược lợp bằng ny-lon che mưa. Trên sân khấu chiếc lư hương tỏa mùi trầm hương nghi ngút hòa trong tiếng nhạc hồn tử sỹ tạo ra không gian đau xót, cô Ba Định, bác sỹ Dương Quỳnh Hoa khóc nức nở, bỗng dưng chiếc lư hương bùng cháy, làm cả đám phục vụ bọn tôi hết hồn. Chiếc lư hương làm bằng gỗ lim tươi nhưng do đốt trầm, nhang nhiều sinh nhiệt nó cháy. Sau lần đi phục vụ đó, tôi có thêm bài học thực tế, bài học cẩn thận trong làm việc.

Qua những năm 70, 71 các bậc đàn anh dần dần được cử đi ra miền Bắc học, tôi  lên làm ấp đội trưởng, tổ trưởng tổ đồ họa của phòng. Ấp đội trưởng là người chỉ huy đội du kích bảo vệ cơ quan. Lúc bấy giờ trong đội du kích của chúng tôi có 2 khẩu B40, 1 khẩu AT, Tăng và 6,7 khẩu súng AK xịn, tôi cảm thấy oai lắm. Xin nói thêm, súng này phần lớn là chiến lợi phẩm do chúng tôi tự trang bị sau những lần tham gia theo bộ đội đánh đồn Tà - Pao của bọn Khme phản động. Còn cái chức tổ trưởng tổ đồ họa – Phòng Hội họa Giải phóng miền Nam cũng không kém, tôi được cấp (trang bị) một xe đạp, một chiếc Radio loại 2 băng, tất cả nhằm phục vụ đi công tác và nghe đài theo dõi tin tức thời sự… có thế mà sướng vô cùng. Thời đó say mê vẽ, thấy cái gì cũng cảm xúc mạnh mẽ về vẽ đẹp của nó, từ gốc cây, cái trảng ở giữa rừng, chiếc nón tai bèo, cái bình toon, chiếc ca inox, khẩu súng, chiếc tăng bằng vải nhựa và chiếc võng… Một thời tâm hồn trong sáng, một thời tuyệt vời để nhớ và để yêu!

Đến bây giờ tôi mới nhận ra giá trị của cảm xúc. Trong sáng tác, cảm xúc phải luôn cháy bổng thì tác phẩm mới có hồn. Cảm xúc là thứ tình cảm không hề so đo, tính toán, nó đến rồi lại đi liền. Khi đã cảm xúc thì sáng tác liền đừng để nó vụt mất. Không có cảm xúc thì không thể sáng tác được, dù anh tay nghề có giỏi đến mấy mà không có được cảm xúc mãnh liệt thì tác phẩm sẽ khô khan, làm cho người xem cảm thấy lý trí lấn lướt mọi thứ và chắc chắn nó sẽ không đi vào lòng người. Thật vậy, giờ nhìn lại những bức ký họa ngày ấy thấy nó giản dị mà dễ thương vô cùng.

Cuối cùng tôi cũng được theo bước đàn anh ra Bắc học. Đầu năm 1974, tập trung cùng một đoàn vượt Trường Sơn bằng “ôtô”. Đến đầu năm học (Niên khóa 1974 - 1975) được Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, xếp vào học cao đẳng năm thứ nhất. Học “lụi” vì không phải thi đầu vào; không có bằng tốt nghiệp cấp 3 (cho nợ, với điều kiện nếu ra trường mà không có bằng bổ túc cấp 3 thì sẽ không được cấp bằng tốt nghiệp). Đến năm 1975, miền Nam được giải phóng, tôi xin chuyển trường về miền Nam học. Vừa học chuyên môn tối đến phải đi học bổ túc văn hóa. Hên quá cuối cùng cũng thi tốt nghiệp lớp 12. Còn bên chuyên môn đang học chương trình cao đẳng thì trường được Bộ nâng lên thành đại học thế là năm 1979- 1980, tôi ra trường với tấm bằng được ghi: Đại học dài hạn, 6 năm, loại khá và được nhà trường giữ lại làm giảng viên. Năm 1978 tôi được kết nạp vào Hội Mỹ thuật Việt Nam, bởi qua Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc tôi có 03 tác phẩm được chọn trưng bày, thay vì chỉ cần có 01 bức. Trong thời gian này tôi tham rất nhiều hoạt động của Hội Mỹ thuật Tp Hồ Chí Minh. Đi theo Quân đoàn 4 ở mặt trận biên giới Tây Nam, vẽ tranh lịch sử cho các nhà truyền thống, bảo tàng các tỉnh, phong trào công nhân, vẽ tranh cổ động, tham gia vẽ cho báo văn nghệ thành phố, làm trang trí Đại hội cho các Hội Mỹ thuật, Âm nhạc, ….. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Nhớ lại thời mình di chăn trâu, tôi sáng tác bức “Hát về đời tôi”. Đó là một câu chuyện về một cậu bé thời tuổi thơ sống trong xã hội đầy u ám, nghèo khổ, hẻo lánh, tối tăm. Lớn lên một chút đi tham gia kháng chiến, thiếu ăn, thiếu ngủ, luôn phải đối mặt với bom đạn, chiến tranh ác liệt và sau chiến tranh vẫn còn nguyên vẹn. Giờ thi học hành đến nơi đến chốn, có gia đình vợ con, nhứt là được sống trong hòa bình, độc lập. Là một họa sỹ Hội Mỹ thuật Việt Nam, thế cũng đủ để gọi là hạnh phúc. Hát về đời tôi là một bức tranh tự hào, có thể nói: hùng tráng và đầy hạnh phúc như thế đó. Nó cũng thể hiện ý nghĩa, tính ưu việt của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp mà Đảng đã đem lại cho những thành phần bần cùng như chúng tôi.

 Ở lại Trường làm giảng viên, thời bao cấp làm nghề nhà giáo rất khổ. Sau đó tôi về làm việc ở Hội Mỹ thuật Việt Nam chi nhánh phía Nam rồi về Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Sau 15 năm là Quyền Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật thành phố HCM, tôi cùng anh em xây dựng Bảo tàng, tạo dựng trong bảo tàng mỹ thuật bia ghi danh những người làm công tác mỹ thuật đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thiết lập được thông lệ hằng năm tổ chức ngày tuyền thống ngành mỹ thuật Giải phóng miền Nam. Sau khi chuyển sang làm Giám đốc Bảo tàng Tôn Đức Thắng, năm 2005 tôi đã sáng lập ra Hội thi vẽ tranh hàng năm với tên gọi “Thiếu nhi thành phố Hồ Chí Minh với Bác Tôn”. Hội thi dành cho các cháu từ 5 đến 14 tuổi của Tp Hồ Chí Minh. Hội thi đến nay (2014) đã trải qua 9 năm, với sự tham gia của các cháu ở các nhà thiếu nhi 24 quận huyện và một số trường tiểu học trong thành phố và sau này có thêm Nhà thiếu nhi tỉnh An Giang.

Với tôi, việc làm này vô cùng có ý nghĩa, ngoài việc tuyên truyền giáo dục các cháu học tập tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác Tôn, nó còn giúp các cháu có điều kiện thể hiện sự yêu thích mỹ thuật của mình và biết đâu, tương lai sau này trong số hàng chục ngàn em đã tham dự hội thi, có em sẽ trở thành danh họa nổi tiếng thế giới, đem lại niềm tự hào cho Tổ quốc. Tôi coi đây là nối bước các chú các anh đã tạo con đường cho tôi đến với mỹ thuật từ thời thơ ấu. Nhân đây xin được cảm ơn những người đã khuất và những người đang còn đã một thời đồng hành, giúp đỡ cho tôi có được con đường như ngày hôm nay.

 
     
  Cộng tác viên ( báo Văn nghệ)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |