Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  08/07/2016  
  CHIẾN SĨ “HẠNG BÉT” KỂ CHUYỆN XƯA  
 

Tác giả: Huỳnh Minh Đoàn 

nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp


P100A là đơn vị An dưỡng cán bộ (sĩ quan), thuộc ban cán bộ, phòng chính trị, Quân khu II (1973 là phòng cán bộ, cục chính trị, quân khu VIII ). Được thành lập vào đầu 1968, sau Tết Mậu Thân. Với chức năng nhiệm vụ thu dung cán bộ mất sức chiến đấu từ khắp chiến trường trong quân khu về “ Đất Phật”  chờ phân công công tác mới cho phù hợp với sức khỏe, năng lực hiện hành.

         

 
 
 


Huỳnh Đoàn có vinh dự được làm chiến sĩ đơn vị ấy ngay từ tháng đầu mới thành lập. Lúc đó tổng số quân nhân P100A có 13 người. Đứng đầu là chú Tám Huê, cấp Đại đội chính trị bậc trưởng; ba kế của Huỳnh Đoàn là Trần Công Thành, Đại đội quân sự bậc phó - Quân y sĩ; Chú Ba Ban cấp Đại đội quân sự bậc phó; Chú Tám Tính, Đại đội chính trị bậc phó; Chú Ba Thành Trung đội bậc trưởng; Chú Năm Tính trung đội bậc trưởng; Anh Tư Chiến trung đội bậc phó; Anh Sáu Thanh tiểu đội bậc trưởng - y tá; Chị Hường - vợ chú Tám Huê và chị Tám Cúc cấp tiểu đội bậc phó cứu thương; Anh Hai Chấn, anh Chiến cấp chiến sĩ và đứng cuối là Huỳnh Đoàn cấp chiến sĩ chức cứu thương - mệnh danh là “chiến sĩ hạng bét”. Chiến sĩ hạng bét của Huỳnh Đoàn có hai nghĩa trắng, đen: Đó là tuổi đời bét nhất, đồng thời là chiến sĩ, con liệt sĩ nhưng chưa đủ tuổi 15 nên không được hưởng bất cứ chế độ nào ngoài tiêu chuẩn “ăn chực ngủ nhờ”.

Hệ thống cấp bậc (quân hàm) của quân giải phóng lúc bấy giờ có 7 cấp: chiến sĩ, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn. Mỗi cấp có hai bậc, bậc trưởng và bậc phó. Từ cấp đại đội trở lên phân ra hai loại: cán bộ chính trị, cán bộ quân sự. Đến năm 1975, phiên ngang thành 14 cấp: binh nhì, binh nhất, hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ, chuẩn úy, thiếu úy, trung úy, thượng úy, đại úy, thiếu tá, trung tá, thượng tá và đại tá. Trước năm 1975 cấp trung đội bậc phó (thượng sĩ) do Ban cán bộ quản lý (tương đương sĩ quan). Những đơn vị trực tiếp chiến đấu các vị chỉ huy thường được giao chức cao hơn 1 cấp như: cấp trung đội bậc phó giữ chức Trung đội trưởng, cấp tiểu đoàn bậc phó giữ chức Tiểu đoàn trưởng.

Tuy là chiến sĩ hạng bét, nhưng nhờ có bằng cứu thương nên được giao giữ túi cứu thương, trong đó có đồng bộ kim tiêm, ống chích, bông băng vết thương, các loại thuốc kháng sinh, cầm máu, thuốc trị đau bụng, nhức đầu, smũi, ho và một số vitamin thông thường. Có lẽ trong quân khu II “Việt cộng” Huỳnh Đoàn là con nít duy nhất được làm cứu thương. Nhiệm vụ của Huỳnh Đoàn ngoài việc giữ túi cứu thương chính hiệu Trung Quốc thì vài ba hôm được phân công xách thùng thiếc đựng cá theo chú Ba Ban cùng 3,4 người nữa đi sâu vô đồng kéo cần chong bắt cá, ếch, nhái, làm thức ăn.

Khi mới thành lập, cả đơn vị cùng nhau sống trong một nhà sàn lắc lơ sát bờ sông Tà Béc - Campuchia, cách ngã ba sông Thông Bình - Việt Nam 5km về hướng Bắc.

Do “đại gia đình” cơ quan cùng chung trên “một tiểu nhà sàn” không mấy gì chắc chắn và không thể chật chội hơn. Mỗi khi vào mùa “muỗi kêu như sáo thổi”, trời mới bắt đầu chạng vạng tối, mọi người đã vô mùng “phòng thủ sốt rét” và tán gẫu đủ thứ chuyện trên đời. Huỳnh Đoàn thích nhất là nghe chuyện chiến đấu trên chiến trường: quân ta đụng độ với quân Mỹ; chuyện bám vành đai Bình Đức đánh Mỹ; chuyện tiểu đoàn 261A bắt sống xe tăng trên đường phố Mỹ Tho và đưa súng phòng không 12 ly 8 lên lầu cao trút lửa căm thù thiêu cháy trực thăng hôm Tết Mậu Thân 1968; chuyện chạm trán với Mỹ hề (biệt kính Mỹ), trên vùng ven đô, chuyện uy lực của pháo Đĩ và pháo Mỹ trong căn cứ Đồng Tâm biệt danh dàn nhạc Tân Tây Lan… Nói chung, mấy chú kể chuyện trực tiếp đánh với quân Mỹ vui và oai hùng lắm! Nhưng thỉnh thoảng vài hôm có những khoảnh khắc im lặng mà vẫn rộ lên trận cười dồn dập thật lãng mạn và rất vô duyên: độ chừng 8,9 giờ tối mọi người bắt đầu lim dim ngủ bỗng nhà sàn bị rung nhẹ và phát ra tiếng kêu kẽo kẹt, một người tằng hắng ho rồi trong chốc lát cả nhà cùng ho xen lẫn tiếng cười khúc khích. Huỳnh Đoàn chả hiểu ất giáp cũng hùa theo cười nịnh. Kết quả là sáng ra thủ trưởng Tám Huê gọi riêng ra sau hè phóng cho Đoàn một trận pháo no đòn và phán thêm mấy câu đau điếng “đồ con nít biết gì mà cười, đồ con khỉ, con nít bà tồn”  làm tôi quê độ mắc cỡ mấy ngày liền!

Đến mùa nước nổi năm 1968, Quân khu quyết định di dời P100A về Gò Trọi tọa lạc trên đất Campuchia cách chợ Cả Sách, xã Thường Thới Hậu 5km về hướng Bắc và đổi phiên hiệu thành P100B. Lúc này nhiều cán bộ bị thương tật từ các chiến trường về chờ nhận nhiệm vụ mới lên đến vài chục, trong đó có nhiều đồng chí là cán bộ tiểu đoàn. Chú Bảy Tròn là cán bộ tiểu đoàn chính trị bậc phó thay chú Tám Huê giữ chức thủ trưởng P100B. Nhưng sau đó độ vài tháng, Quân khu thu gọn P100B và đổi tên thành Trạm trực cán bộ, ký hiệu M61, hòm thư 841X. M61 có 5 người: chú Ba Ẩn cán bộ đại đội chính trị bậc trưởng (trưởng trạm), chú Ba Liêm trung đội bậc trưởng làm quản lý, anh Hai Phú trung đội bậc trưởng quân y sĩ, anh Sáu Thanh trung đội bậc phó y tá và Huỳnh Đoàn chiến sĩ “nhất” cứu thương kiêm chức “chân sai vặt”. M61 di chuyển về Tân Lèo (trên đất Campuchia) cách biên giới Việt Nam về hướng Bắc xã Hưng Điền, tỉnh Kiến Tường khoảng 10km. Tân Lèo nằm vào điểm nút đường giao liên M55 đi chiến trường - về Bộ tư lệnh Quân khu và R (Trung ương cục miền Nam).

M61 là điểm giao hội cán bộ từ trên R xuống tạm dừng chân rồi chuyển tiếp đến Bộ tư lệnh Quân khu làm việc và ngược lại. Đồng thời cán bộ trên các chiến trường trong Quân khu về “yết kiến mặt trời”  và các “ông mặt trời” tạm nghỉ chân để bước xuống chiến trường chỉ đạo tác chiến. Nên khi về đây, tôi được nghe những mu chuyện nhỏ của chiến binh quân giải phóng miền Nam đọ sức thần kỳ với 45 ngàn quân viễn chinh Mỹ có thừa các loại xe tăng, tàu bay trên rừng miền Đông trong chiến dịch Junction - City với tham vọng “đánh gãy xương sống Việt cộng”; chuyện quán triệt tư tưởng chỉ đạo “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh, biệt động vào sào huyệt Mỹ mà diệt” của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh Bí thư Trung ương cục miền Nam; chuyện Chánh ủy Trung đoàn Châu Hoàng Nam dẫn trung đội trinh sát xác định nơi quân Mỹ trú quân, trong đêm cho bộ binh trung đoàn tập kích; Chuyện anh Sáu Thanh Lèo Đại đội trưởng Đại đội 1/261 bị thương ở chân nhưng quyết không rời trận địa, mà còn bắc ghế ngồi dựa vách tường chỉ huy bộ đội đánh xe tăng phản kích trong thành phố Mỹ Tho, nay là Tiểu đoàn trưởng 261 của Trung đoàn Đồng Tháp I. Anh thuộc hàng “Anh Cả Đỏ” của Quân khu II, tả xung hữu đột dũng mãnh đối đầu với sư đoàn 9 Mỹ và sư đoàn 7 khét tiếng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa khi chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam đương kim tư lệnh sư đoàn; Chuyện Trần Văn Bôn – chiến sĩ Tiểu đoàn 261, chiến sĩ thi đua Quân khu ở tuổi 15 mà trong trận chống càn, một mình bẻ gãy nhiều đợt đột kích của cả trung đội lính Mỹ, bắn rơi cả máy bay trực thăng “cá lẹp” và nhiều câu chuyện chiến đấu oai hùng khác… tôi tự thấy mình thừa sức vác súng B40 làm chiến binh 261 xông pha nơi chiến địa để thi đua lập chiến công lẫy lừng.

Nhiệm vụ tôi lúc này được anh Hai Phú quân y sĩ giao mỗi sáng dậy sớm đi hết các chòi, trại hỏi thăm sức khỏe các chú, các anh chị cán bộ (khoảng vài chục người), nhất là mấy chú làm lớn (có đeo súng K45). Ngoài ra còn “bị được sai” đột xuất nấu nước bằng rơm pha trà cho mấy chú uống, coi mấy chú đánh bài Tú lơ khơ và nghe các chú kể chuyện… Nói chung là nhận nhiệm vụ “làm chân sai vặt” trong cơ quan và luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Với hình hài nhỏ nhắn, vui vẻ, tính nết dễ thương nên được các chú, các anh chị thương, nhiều lần cho tiền bạc cắc mua kẹo, có chị còn biểu “tối lại nằm gần chị cho vui”, đặc biệt vào khoảng giữa năm 1969, tôi còn được chú Ba Ẩn cho đi học y tá. Ngoài tôi còn có chị Phương trên phòng chính trị, nơi gần “mặt trời” được gửi đi học. Chỉ mới xa đơn vị được mấy ngày nhưng chị Phương đã khóc nức nở vì nhớ đơn vị. Còn tôi bị đuổi về vì nhỏ tuổi (mới 16 tuổi) và chưa phải là đoàn viên nên không đủ tiêu chuẩn. Nguyên nhân tôi chưa được đoàn viên vì cơ quan M61 là cán bộ các nơi về, tất cả đều là đảng viên, không có chi đoàn nên tôi bị bỏ quên. Vậy là tôi quải ba lô cuốc bộ về M61, dù rất buồn nhưng tôi không thèm khóc. Một tuần sau, anh Hai Phú xin được điều lệ đoàn, chỉ cho tôi học và tuyên bố tôi là đoàn viên dưới sự chứng kiến của 2 đảng viên. Bốn tháng sau (11/1969) tôi được cử đi học y tá lần hai. Học xong tôi ôm hết k niệm 2 năm làm lính phòng chính trị trốn trường theo đoàn Tân Binh A về làm lính trận mạc của Tiểu đoàn 261 trên chiến trường Mỹ Tho.

Được làm người lính nhỏ của Cục chính trị Quân khu VIII vừa vinh dự vừa trả được một phần hiếu thảo của Huỳnh Đoàn đối với ba, mẹ. Chuyện rằng: giữa năm 1967 Huỳnh Đoàn phiêu dạt trở về sống với bà ngoại đã tản cư lên vùng giải phóng thuộc xã biên giới Tân Hộ Cơ. Nhà nằm ven sông Sở Hạ, nên chiều chiều chứng kiến hình ảnh chiến sĩ giải phóng quân đầu đội nón tai bèo, khăn dù bông quấn cổ, vai mang súng AK ngồi trên xuồng điều khiển máy đuôi tôm rẽ sóng ra chiến trường oai phong đẹp đẽ. Với lý lẽ trả thù cho cha bị giặc giết nên ngày nào tôi cũng xin ngoại đi bộ đội cầm súng chiến đấu.

Mẹ tôi lúc đó là Huyện ủy viên Hồng Ngự phụ trách 3 xã ven biên giới. Bà thấy con còn non nớt với súng đạn, nếu cầm súng ra trận rất dễ theo ba thành liệt sĩ. Chính vì vậy bà đã xin tiền má Tư (dì Tư) đóng tiền cơm và ép tôi vào dân y huyện xin học lớp cứu thương 45 ngày bằng lý lẽ thuyết phục: “Con là con độc nhất của ba, con giống ba con lắm, lúc ba con hy sinh là y tá trưởng đại đội 948 tiểu đoàn 311 nên bây giờ con học cứu thương, ít lâu sau con học lên y tá, được làm y tá trưởng giống ba con!”. Nói tới giống ba là tôi khoái chí vui vẻ vâng lời. Sau khi học xong lớp cứu thương, bà gửi tôi đầu quân vào P100A nơi có ba kế vừa ra viện về an dưỡng do bị thương gãy xương sườn và cụt 3 ngón chân. Và nhờ như vậy, tôi mới còn đến ngày hôm nay để viết những dòng hoài niệm nhân kỷ niệm 70 năm ngày lập Cục Chính trị Quân khu VIII. Bởi kiểm chứng trên chiến trường có đến trên 90% độ non nớt như tôi lúc đó nếu đầu quân vào đơn vị chinh chiến trì đảm bảo không quá một mùa chiến dịch sẽ bị “rửa cẳng leo lên bàn thờ” .

Trải qua 46 năm (1968 – 2014) tại chức đến tuổi nghỉ hưu, tôi được 32 năm đứng dưới quân kỳ quyết thắng, lần lượt “bò” từ “Binh bét” đến Trung tá Trung đoàn trưởng chỉ huy chiến đấu trong đội hình Binh chủng hợp thành rồi thành Đại tá Tỉnh đội trưởng thì được 2 năm được làm lính cục chính trị Quân khu VIII của Huỳnh Đoàn còn lắng đọng trong tôi nhiều cảm xúc khó có thể nào quên!

 
     
  Cộng tác viên ( bao VN)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)












  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |