Thứ Tư, ngày 24 tháng 4 năm 2019        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  17/12/2018  
  Hồi kí KHI TỔ QUỐC GỌI (tiếp theo)  
   
 
 


                                                                                     

Tôi và anh Bảy Noãn chênh nhau xấp xỉ ba tuổi nhưng lúc nhỏ chúng tôi vẫn coi ngang lứa, đánh lộn hoặc trêu chọc nhau là chuyện bình thường, và chuyên gọi nhau bằng “thằng” chớ không xưng hô “anh em”. Do cách xưng hô như thế nên bà nội thường bảo tôi là đồ “không có đầu có đuôi”. Có lần hai đứa đánh nhau trên bộ ván gõ giữa nhà, đang thất thế tôi giả vờ ngã vật xuống ván, miệng thở khè khè, thấy vậy anh đâm hoảng, sợ tôi chết vội vàng khom xuống ôm ngang eo ếch nâng tôi dậy, miệng hỏi liên hồi: “Có sao không mậy, có sao không mậy...?”. Thấy anh bị gạt tôi khoái chí cười sặc sặc, thế là anh lại thả xuống nghe cái “bịch” còn đá thêm mấy đá! Lần khác vào dịp Tết, bà già đi chợ mua được hai giỏ ớt kiểng, khi hai đứa đến xem tôi bèn nói: “Ê Noãn, đố mày là tao có dám ăn mấy trái ớt này không?”. Anh bèn trả lời: “Mày chỉ nói phách chớ làm sao dám!”. Nghe nói khích, tôi bèn hái một lúc cả chục trái lần lượt nuốt trọng từng trái một, bởi nuốt nguyên cả trái thì đâu có cay. Thấy vậy anh Bảy cũng thật sự bất ngờ phục sát đất, còn tôi thì khoái chí tử vì đã đánh lừa được anh. Nào dè ớt nuốt vào bụng thì đâu còn nguyên trái nên sáng hôm sau đi ngoài đít nóng như xát ớt thiếu điều la làng, thật là chuyện dại tởn tới già!

            Câu chuyện nuôi gà tre cũng đã để lại một kỷ niệm “đắng cay” giữa tôi và anh Bảy Noãn. Số là vào năm 1941, má tôi phải đi Cần Thơ để mổ bướu cổ, trước khi đi Bà để lại cho chúng tôi một ít tiền mua thức ăn. Vì quá mê gà tre nên thay vì đi chợ mua thịt mua cá, chúng tôi cùng một lòng hết sức hà tiện, chỉ ra chợ nhặt các lá và rễ củ kiệu của người ta bỏ đi, mang về chấm nước mắm kho quẹt ăn với cơm, còn để dành tiền mua một cặp gà giống. Nuôi một thời gian nó đẻ được một bầy gần chục con. Có một bữa anh Bảy Noãn rủ tôi cùng chơi đánh đáo lỗ ăn tiền, cùng ngoéo tay giao hẹn là đứa nào thua thì sẽ mất luôn cả đàn. Chơi gần nửa buổi thì tôi thua sạch và tất nhiên cả đàn gà đã trở thành của riêng của anh Bảy. Tôi vừa buồn lại vừa tiếc vì đã chịu ăn cực ăn khổ mà bây giờ chỉ còn hai bàn tay trắng! Khi mấy con gà trống bắt đầu trổ mã gáy te te, anh kêu tôi: “Ê Phiên, mày coi mấy con gà trống của tao có ngon không, sắp bắt đầu đạp mái rồi đó!”. Và khi mấy con gà mái bắt đầu chịu trống thì anh lại kêu tôi: “Ê Phiên, mày coi mấy con gà mái của tao có ngon không, nó sắp kêu ổ rồi đó!”, nghe vừa tức lại vừa tiếc. Mà mỗi khi mấy con gà này nhảy lên ỉa trên bộ ván gõ giữa nhà thì bà nội cũng nhè tên tôi mà réo như muôn thuở: “Thằng Phiên, mày vô mày coi cái thằng cha của mày nó ỉa trên bộ ván của tao kia kìa!”, chớ đâu có thèm kêu đến tên anh Bảy. Nghe mà chịu hết thấu!

            Xem ra thuở nhỏ tôi và anh Bảy cũng giống như hai con gà chọi cùng bầy, rất thích choảng nhau, nhưng lại rất thương nhau, gắn bó nhau trong mối quan hệ giao du cũng như đỡ đần cha mẹ trong chuyện nhà chuyện cửa. Lúc anh Năm Nhự rời nhà lên Sài Gòn học thì tôi và anh đã trở thành “chủ lực” trong gia đình, phụ lo việc nhà như lau bàn lau ghế, giữ em, xách nước, giặt quần áo, nấu cháo ăn lót lòng... Hằng ngày chúng tôi luân phiên thức dậy từ bốn giờ sáng nấu cháo cho cả nhà điểm tâm đỡ tốn mấy xu tiền ăn sáng. Kể ra thì chuyện nấu cháo cũng chẳng có chi là khó, chỉ cần vo gạo nhóm lửa bắt lên bếp rồi ngồi đó mà chờ cho tới khi nó chín, canh chừng không để lửa cháy to dễ bị trào, thế thôi. Còn hôm nào ngủ quên dậy trễ thì phải giở ngón tăng tốc bằng cách dùng đũa bếp khuấy liên tục cho nó mau nhừ kịp ăn trước giờ đi học. Vì đang tuổi ăn tuổi ngủ mà phải thức dậy vào cái giấc đó nên lắm lúc ngồi canh mà cứ ngủ gà ngủ gật, khổ không gì bằng.

            Mỗi khi có gánh hát đến diễn tại chợ Cao Lãnh thì má thường sai tôi và anh Bảy mang sề bánh quy, bánh ít trần ra chợ bán cho người đi coi hát ăn cữ khuya, và đó cũng là những dịp chúng tôi được coi hát ké không mất tiền. Chúng tôi thay nhau, đứa này ở lại coi xề bánh thì đứa kia đến chỗ rạp hát nhìn qua kẽ hở coi người ta diễn. Có một lần khi tôi đang coi xề bánh cho anh Bảy đi xem thì có một thằng ở hàng xóm đến nói là anh đã bị một đứa khác tranh chỗ đâm bị thương chở vô bệnh viện. Tôi lo quá, tắt đèn, bưng xề bánh về nhà. Vừa đi được mấy bước đã thấy anh lơn tơn trở lại, tôi chưa kịp nói thì anh ngạc nhiên hỏi tôi mang bánh đi đâu vậy, tôi bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện, anh cười lớn nói rằng tôi đã bị gạt. Tuy biết bị gạt nhưng tôi cũng hết sức mừng vì anh vẫn còn nguyên vẹn.

            Để giúp gia đình kiếm cá ăn, chúng tôi thường đi chài trên sông Cao Lãnh, anh Bảy vãi chài còn tôi thì bơi xuồng. Chỉ trên một khúc sông dài năm sáu trăm mét mà vào những ngày nước kém, với một miệng chài cụt do ba tôi thải ra mà chúng tôi cũng bắt được cả rổ cá đủ các loại: cá lòng tong, cá mè, cá linh, cá trèn, cá chốt... và có khi còn được cả tôm càng nữa! Còn mỗi năm, cứ đúng ngày hai mươi lăm tháng Mười âm lịch, khi những cơn gió bấc bắt đầu thổi về, trời se se lạnh, nước bắt đầu rút thì cá tôm trên đồng cũng sợ lạnh mà rút hết xuống sông. Những lúc đó thì không cần phải bơi xuồng đi đâu xa, cứ đậu ngay vàm rạch Cái Sâu đối diện nhà chúng tôi mà quăng chài, quăng xuống kéo lên, rồi lại tiếp tục kéo lên quăng xuống đến hết buổi là cá đã đầy khoang mà không một lần khua động đến mái dầm. Không biết thuở đó sao mà nhiều cá đến thế! Nhớ có một lần chúng tôi chài đến chỗ gần Dinh Quận trưởng thì thằng cha cai Lâu kêu chúng tôi lại, nó chọn bắt những con ngon nhất rồi thuận chân đạp mũi xuồng chúng tôi ra, không trả tiền trả bạc mà cũng không một lời cám ơn. Chúng tôi tức quá chừng nhưng đâu có dám nói gì với mấy thằng cha lính trời ơi đó!

            Riêng bản thân tôi thỉnh thoảng cũng một mình xách cần câu đi nhắp cá lóc và đây cũng là một cách kiếm cá dễ mê lắm. Tôi đi theo ven sông tìm các đống chà, các đám lục bình rau mác mà thả câu, không sớm thì muộn, không to thì nhỏ, thế nào cũng tóm được các anh chàng cá lóc hung dữ và háo ăn. Mỗi khi đến nơi tôi chỉ cần chọn những chỗ “ngon” nhất, móc một con cá linh hoặc con cá rô non làm mồi rồi thả xuống mà dò, khi nghe một tiếng “bụp” nhè nhẹ, sợi dây câu khẽ rung, một đám bọt nước từ dưới nổi rần lên thì biết cá đã cắn câu. Tuy đây là những phút giây hồi hộp căng thẳng, tim đánh thình thịch, nhưng tuyệt nhiên không được hấp tấp giật ngay vì lúc này cá chỉ mới đớp mồi, giật dễ bị trượt; mà phải bình tĩnh chờ đôi ba phút cho đến khi đoan chắc rằng con mồi đã bị ngậm trọn vào miệng, đến lúc đó chỉ cần gặc mạnh cần câu một cái cho lưỡi câu xóc hẳn vào mang cá, rồi cả hai tay phải vừa giữ chặt cây cần câu, mặc cho chú cá tha hồ uốn éo vặn vẹo, vừa ra sức kéo nó lên khỏi mặt nước, nâng lên thật cao để mà tận hưởng cái thành quả tuyệt vời khi nhìn thấy nó, cái con cá lóc tham ăn, đang vùng vẫy một cách tuyệt vọng trên không trung, đã ơi là đã! Cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in cái cảm giác sung sướng tột độ khi lần đầu tiên với cái kiểu đó mà tôi giật được một con cá lóc khá to trong đống chà của ông Hai Lịnh bên cạnh nhà tôi.

            Lại có câu chuyện “gần mực thì thế nào cũng đen”. Phía sau nhà ông bà nội là nhà chú Chín T., một căn nhà lá đơn sơ vì gia đình rất nghèo, không vườn tược đất cát gì cả. Chú có người con trai là anh Tư Đê chuyên chứa cờ bạc, thường là đánh bài cào, các tê, xì dách, và cả mấy anh em cũng đều đánh bài. Có một lần má sai tôi mang tiền đi trả tiền mua lá lợp nhà, khi đi ngang nhà chú Chín T. thì mấy anh em rủ vào đánh bài. Không biết có phải tôi bị mấy anh em cùng xúm lại ăn gian hay không mà cứ thua hoài. Thấy tôi móc một cọc tiền ra chung chi, anh Tư Đê bắt đầu sợ vì đoán chắc không phải là tiền riêng của tôi nên không tiếp tục chơi nữa, mặc dù tôi cố nài nỉ đánh tiếp để gỡ lại, nhưng anh nhất quyết không chịu. Lúc này tôi rất lo bởi thua quá nhiều, lấy tiền đâu mà trả cho khách. Tôi đánh liều nghĩ ra một cách, là cứ mỗi xấp tiền thì rút ra vài tờ rồi bó lại thành một cọc đem trả cho người ta. Khi giao tiền thì bà chủ chỉ đếm xấp, không giở ra đếm từng tờ. Thế là hú hồn, coi như đã thoát! Nhưng mấy hôm sau thì bà chủ vựa lại đến nói với má tôi là tiền trả thiếu, nhưng má tôi đã đếm rất kỹ trước khi giao tiền cho tôi nên nhất quyết chuyện đó là không thể, chớ bà nào có biết mánh khóe của tôi. Nói qua nói lại một hồi rồi bà kia cũng đành chịu thua vì đuối lý. Một lần khác bị thua bài, tôi phải về nhà lén giở lu lấy một con mắm cá lóc mang qua chung chi, nhưng lại bị thím Chín chê là mắm bị chua làm tôi tức quá chừng, bởi má tôi là người làm mắm ngon có tiếng ở Cao Lãnh. Biết nhà chú Chín Trượng là nơi chứa cờ bạc, sợ tôi bị rủ rê rồi sa đà vào con đường đen đỏ, má nói một câu thật đơn giản nhưng rất chí lý rằng cờ bạc ăn tiền chính là muốn móc tiền trong túi người ta làm tiền của mình. Sau này khi lớn khôn tôi mới nghiệm ra rằng tuy má tôi là người không được học hành bao nhiêu, chỉ mới biết đọc biết viết mà có thể nói lên cái lý đó bởi vì má tôi là một con người lương thiện, muốn dạy tôi đừng bao giờ có lòng tham, chớ có lấy cái không phải là của mình đem về làm của mình. Và đây cũng là những điều chỉ dạy rất quý báu của má đối với tôi.

2 – CẢNH CHỢ QUÊ TÔI

      Nhà ông bà nội và trường học chúng tôi rất gần chợ nên tôi thường ra đấy chơi. Phải chăng do đây là nơi tập trung nhiều sắc thái riêng của quê hương gắn liền với thời thơ ấu, nên dù có đi đâu, đến vùng phồn hoa đô hội nào tôi vẫn nhớ đến cái chợ nửa quê mùa nửa thành thị này.

      Ở ngoài chợ người ta thường bán cá lia thia túm từng con trong túm lá môn, tuy giá mỗi con chỉ một xu nhưng ít khi tôi có tiền mua nên đòi xem thì nhiều mà mua thì ít, nhưng con nào mua được đều là nhứt đám. Ở cái chợ này không có phiên nào vắng bóng những con chim sắc bông, áo dà được nhốt trong những chiếc lồng xinh xắn, người bán chỉ cần đứng yên một chỗ cũng có cả đám con nít chúng tôi đến bu quanh xem một cách thèm thuồng. Đến mùa nước nổi thì các loại trứng cúm núm, trứng le le, trứng vịt trời, trứng trít nước... mang ra từ vùng sâu của Đồng Tháp Mười được bày bán từng sề từng rổ, thứ luộc ăn còn ngon hơn trứng gà trứng vịt. Ở cái chợ này, vào thời kỳ trời mới sa mưa, nếu có những trận mưa dầm vào ban đêm, thì y như rằng sáng hôm sau ngoài chợ sẽ “tràn ngập” những ếch nhái và cóc. Ếch thì xâu từng chùm, cóc nhái thì nằm lủ khủ trong giỏ trong bung, ai muốn mua thì tha hồ mà chọn mà trả giá. Tôi thích nhất món ếch xào lăn với nước cốt dừa, còn đối với cóc thì ban đầu cũng hơi sợ vì thấy da nó xù xì và khi động đến còn xịt ra mủ, nhưng ăn quen mới thấy thịt nó ngon hơn hẳn so với ếch nhái.

            Đến mùa nước nổi thì bán đủ các loại rắn: hổ đất, hổ hành, ri cá, ri voi... và nhiều nhất là rắn bông súng, nó cuộn thành từng nùi trong giỏ trông rất dễ sợ. Tuy nhiên tất cả các loại thịt đều rất ngon, và dưới bàn tay chế biến thiện nghệ của ba tôi thì tất cả đều có thể trở thành những món ăn tuyệt diệu. Gặp những hôm trời mưa dầm, thấy người ta bày bán những con chuột đã lột hết da còn để nguyên cái đầu với hai hàng ria mép đen xì, đặt trên những cái xề có lót lá chuối, không che không đậy, thịt tái ma tái mét thấy mà phát ớn nhưng cũng có nhiều ông bợm rượu mua về chế biến mồi nhậu.

            Ở cái chợ Cao Lãnh này, chẳng mấy ai không biết bánh bèo nhân tôm thịt được rưới nước mắm ớt bằng chiếc gáo làm bằng vỏ trái mù u, mỗi dĩa giá một xu của chị Út Liễu, suốt buổi chợ không khi nào vắng khách, có người ăn tới hai ba dĩa mà còn thòm thèm. Nhiều bà nội trợ thích “lót lòng” bằng một tô cháo cá trên có rắc hành tiêu thơm lựng của dì Năm “cháo cá” và họ cũng không quên nhắc tới chị con gái của dì là người cưỡi ngựa đua nổi tiếng ở chợ Cao Lãnh. Ở cái chợ này, tôi cũng nhớ đời cái món cháo đậu đen ăn với cá lóc con kho khô và dưa mắm, chế thêm muỗng nước cốt dừa... Đến đỗi sau ngày giải phóng, khi lần đầu tiên đi đến bến phà Mỹ Thuận thấy có gánh cháo đậu đen tôi bèn xề qua ăn liền một lúc mấy chén cho đến lúc bụng no cành mới thôi.

            Tôi nhớ những cây trứng cá trồng dọc mé sông mà trên cây lúc nào cũng đầy trái chín đỏ mọng bởi ít có đứa nào dám trèo lên hái vì có mấy ông lính mã tà luôn dòm ngó, sợ mấy đứa nhỏ trèo lên chẳng may bị té gãy tay gãy chân tội nghiệp. Thế nhưng tôi vẫn không ngán, cứ lựa lúc vắng lính là trèo. Chẳng may có một lần khi đang ngồi vắt vẻo trên cây vừa hái trái vừa ăn, chợt nhìn xuống thì thấy một lính đang lù lù đi tới, lúc này thì tôi chỉ có cách liều mạng buông hai tay từ trên cây phóng đại xuống. Khi xuống tới đất thì hai đầu gối lại chạm mặt đường đau điếng, nhưng cũng phải cố sức đứng dậy bươn chạy thật nhanh và khi tỉnh hồn xem lại thì thấy cả hai đầu gối đều sưng chù vù rớm máu.

                                                                                                                        (còn nữa)

Nguyễn Long Trảo


 
     
  Anh Đào ( Báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 
  • 1 2 


    Các bản tin Khác

     Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |