Thứ Tư, ngày 22 tháng 5 năm 2019        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  15/02/2019  
  NHỚ NHỮNG CÁI TẾT THỜI KHÁNG CHIẾN  
  Mấy hôm nay trời chuyển gió bấc hơi se lạnh, đôi chim đậu trên tàu dừa sau nhà tôi cất lên mấy tiếng "cúc cu", bỗng câu ca dao mà tôi thuộc lòng từ nhỏ: "Cu kêu ba tiếng cu kêu/ Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè", làm tôi nhớ về những cái tết thời kháng chiến chống Mỹ.  
 
 




Cái Tết ở "R" - TW Cục miền Nam, cuối năm 1963 đầu năm 1964.

Năm ấy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam chủ trương mở lớp văn nghệ đầu tiên đào tạo lực lượng văn nghệ sĩ cho các Đoàn văn công ở Nam bộ từ Bình Thuận đến Cà Mau, trong đó tỉnh Kiến Phong (nay là Đồng Tháp) có sáu người đi dự lớp học nầy. Khoảng tháng 12 dương lịch năm 1963, đoàn học viên chúng tôi theo giao liên xuất phát từ Đường Thét, xã Thiện Mỹ - nay là Ba Sao - đi lên "R" để học. Lúc này Đồng Tháp Mười nước đã rút khá nhiều, người ta gọi mùa nầy là "lỡ nước, lỡ khô", đi xuồng thì mắc cạn, đi bộ phải lội nước. Ngày đầu, chúng tôi được giao liên cho đi xuồng. Từ kênh Đường Thét đoàn đến kinh Kỳ Son, qua kinh Tây Máy Đèn, Cả Tuất, Tân Thành để đến Tân Lèo giáp biên giới Campuchia. Từ đây bắt đầu bỏ xuồng đi bộ. Đường đi phần lớn là lội nước, đoạn cạn nhất cũng ngập gần đến đầu gối, nơi sâu nhất thì tới bụng hoặc bắp vế. Đi bộ sáng đêm từ 17 -18 giờ chiều đến 4-5 giờ sáng. Ròng rã như vậy khoảng hai mươi ngày mới đến miền Đông thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Lúc qua sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây vào ban đêm, chúng tôi cởi trần (chỉ mặc quần cụt), quần áo và đồ tư trang cho vào tấm ni lon bọc lại như kiểu "củ tỏi" làm phao lội (bơi) qua sông. Từ trước đến nay tôi chưa bao giờ đi xa và thời gian lâu như vậy nên rất mệt. Hai chân sưng vù, bàn chân bị gốc tràm đâm tứa máu đi không nổi, có lúc tôi phải quay lưng lại đi thụt lùi cho đỡ mệt. Địa điểm học là một khu rừng già hoang vắng, không có bóng dáng người; cây rừng dày đặc có nhiều tầng lá che khuất ánh sáng mặt trời. Chim và thú rừng ở đất khá nhiều, nhất là chim cao các, gà rừng, sóc, nhện và vượn, khỉ.... Do chưa xây cất được nhà, nên học viên chúng tôi dọn một khoảng trống nhỏ để giăng võng ngủ. Việc ăn uống thì gạo mang theo vẫn còn và dùng nước suối bên cạnh nơi ở. Nấu ăn bằng lon gui-gô chớ không có nồi, củi chụm thì bẻ cây rừng khô có sẵn. Ban đêm đủ thứ tiếng động của rừng như sóc kêu, mễn "tát", gà rừng gáy, khỉ, vượn hú... cùng không khí lạnh lúc gần tết của rừng làm chúng tôi không ngủ được.

Ngày 29 Tết, một con voi bị thương nặng, học viên chúng tôi đi xa gần chục cây số đường rừng để tải thịt về. Dù cả tấn thịt voi rừng nhưng với số lượng học viên gần bốn trăm người, cộng với cán bộ trường nên chẳng thấm vào đâu. Do đây là cái Tết đầu tiên mà tôi xa nhà, xa đồng bằng nên cái gì cũng mới lạ và bỡ ngỡ. Đêm trằn trọc không ngủ được, tôi lại nhớ về những cái Tết lúc còn nhỏ ở gia đình.

Quê tôi xã Thiện Mỹ. Mỗi khi Tết đến, năm bảy nhà trong xóm hùn lại làm bánh để cúng ông bà và ăn Tết. Từ ngày 23 âm lịch đưa “ông Táo về trời”, nhà thì quết bánh phồng, bánh tráng, nhà lại gói bánh tét, bánh ít. Nhà nào cũng mua bánh, mứt, trái cây, đặc biệt không thể thiếu món kẹo thèo lèo, chà là và cặp dưa hấu để chưng lên bàn thờ gia tiên. Đêm đêm trong xóm tiếng chày quết bánh cụp cum, tiếng nói cười râm ran, rộn rã của các bà, các chị làm bánh hòa với tiếng nô đùa, tiếng pháo đì đùng lẻ tẻ đầu trên, xóm dưới của lũ trẻ, tạo không khí vui tươi, sôi động trong những ngày giáp Tết. Giờ giao thừa, nhà nào cũng đốt pháo mừng đón xuân mới. Có nhà đốt tới ba, bốn phong pháo, kèm theo những viên pháo đại, khói mịt mù, tiếng nổ chói tai. Người ta nấu nước pha trà, dọn bánh mứt, trái cây lên bàn thờ cúng và rước vong linh tổ tiên về ăn Tết. Sáng mùng một, họ kiêng cữ không quét nhà, xách nước, chẻ củi, những việc đó phải làm xong chậm nhất là đến chiều ba mươi cuối năm. Trẻ con không được đến nhà hàng xóm vào sáng mùng một và phải chờ người lớn đến “xông đất”, khai trương trước. Ngày Tết cổ truyền ngoài bánh mứt, hoa quả, nhứt thiết không thể thiếu nồi thịt kho với cá lóc và hũ dưa giá, dưa cải. Ba ngày Tết mọi người nghỉ lao động, chỉ dành thời gian đi thăm nội, ngoại, cúng gia tiên và vui chơi. Trẻ con lạy mừng tuổi ông bà, cha mẹ được nhận bao thư đỏ “lì xì” của người lớn, được chúc học giỏi, chăm ngoan và khỏe mạnh. Các vật dụng trong nhà từ cây cột cái, cánh cửa, đến bồ lúa, chuồng bò, chuồng heo…. đều được dán giấy tiền vàng bạc. Cặp dưa hấu trên bàn thờ thì dán tờ giấy “điều” có chữ Phúc, Lộc, Thọ. Trò chơi trong ba ngày Tết là đốt pháo, đá gà, đánh bài, nhậu…. Dù ở nông thôn nhưng quê tôi những ngày Tết thật vui vẻ.

Còn hiện tại ở đây, căn cứ TW Cục miền Nam - “R”- những thứ đó hoàn toàn không có. Đêm đón giao thừa, tất cả học viên tập hợp lại một địa điểm quanh đống lửa rừng nghe lãnh đạo nhà trường phát biểu về ý nghĩa ngày Tết cổ truyền của dân tộc, sau đó mở radio nghe lời chúc mừng năm mới của Bác Hồ. Từ mùng một đến mùng ba mọi người tập hợp từng tỉnh, từng nhóm tỉnh để giao lưu văn nghệ. Việc ăn Tết thì sáng mùng một được dự một bữa liên hoan chung. Nói là liên hoan nhưng thật ra mỗi người chỉ được chia khẩu phần bằng ba miếng thịt voi luộc (săn được hôm hai mươi chín Tết), mỗi miếng bằng ngón tay cái chấm với muối, được ăn cơm không trộn bắp hoặc đậu xanh, cùng một món canh là xương voi hầm với lá bứa rừng, nước lõng bõng. Chắc mọi người sẽ hỏi con voi cả tấn thịt sao lại ăn Tết dè sẻn như vậy? Xin thưa, vì phải muối để dành ăn những ngày tiếp theo do nhà trường mới tập hợp lực lượng, chưa tổ chức được bộ phận tiếp phẩm. Từ mùng hai Tết về sau, việc ăn uống trở lại bình thường với gạo trộn bắp và mỗi người được khẩu phần một miếng thịt voi muối kho, cỡ ngón tay út. Do đó là cái Tết đầu tiên của tôi ở “R” trong những năm đánh Mỹ.

Đến cái Tết cuối năm 1964, đầu năm 1965, lúc tôi ở Đoàn Văn công Tiền Giang tỉnh Kiến Phong (nay là Đồng Tháp). Thời kỳ này chiến tranh chưa ác liệt, Đoàn Văn công Tiền Giang hơn bốn mươi người, với chương trình văn nghệ rất qui mô, gồm các tiết mục tân nhạc, cổ nhạc, múa và kịch bản cải lương. Sắp Tết, Mặt trận Giải phóng miền Nam ra lịnh ngưng bắn ba ngày để nhân dân và binh sĩ địch vui xuân. Ngày 29 Tết, Đoàn Văn công ở xã Thanh Mỹ, Ban lãnh đạo chủ trương ăn Tết sớm để sau đó mở đợt biểu diễn phục vụ bà con các ngày từ mùng một đến mùng bảy. Hôm ấy, chúng tôi phân công nhau đi mò cá, bà con ở chung quanh cho bánh, mứt, gà, vịt để Đoàn liên hoan cùng nhân dân ở nhà chị Út Thành. Đêm ba mươi Tết trước đón giao thừa, Đoàn tổ chức buổi biểu diễn phục vụ nhân dân xã Thanh Mỹ, bà con đến xem hơn năm ngàn người. Sau giờ giao thừa, Đoàn hành quân đến xã Đốc Binh Kiều để hôm sau diễn vào đêm mùng một Tết. Sau đó, Đoàn đến biểu diễn ở xã Mỹ Hòa, Mỹ Quí, Thiện Mỹ, Phong Mỹ, Nhĩ Mỹ, Tân Phú (Thanh Bình), mùng bảy Tết diễn ở xã Bình Thạnh là điểm cuối. Việc ăn Tết tùy hoàn cảnh từng địa phương, bà con cho gì ăn nấy. Cả mấy ngày Tết cứ lặp lại việc nửa đêm hành quân đến ba, bốn giờ sáng. Đến điểm mới phân tán ở trong nhà dân, ăn Tết với dân, chiều chuẩn bị sân khấu và biểu diễn đến hai mươi ba giờ, sau đó dọn dẹp màn phông, đồ đạc, ăn cháo khuya, đúng hai mươi bốn giờ hành quân đến xã khác. Do thức đêm liên tục nên anh chị em diễn viên có người bị cảm sốt, khan tiếng, có người không còn sức biểu diễn, nhưng được sự động viên và cổ vũ nhiệt tình của bà con nên chúng tôi rất vui. Có thể nói, Tết là ngày hội của Đoàn Văn công với bà con trong vùng giải phóng.

Đến mùa xuân năm 1968, Đoàn Văn công lại ăn Tết bằng việc tham gia tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân.  Đây là một cái Tết rất đặc biệt.

Như những năm trước, cứ gần Tết chúng tôi chuẩn bị chương trình văn nghệ, nhất là phải có vở cải lương “Táo quân chầu trời”. Đã đến 29 Tết nhưng chưa thấy Ban Tuyên huấn chỉ đạo gì mới, Ban lãnh đạo Đoàn cho anh chị em ăn Tết với nhân dân xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh. Kế hoạch sau đó là sẽ đi biểu diễn trong bảy ngày Tết ở các xã như trước đây. Đêm giao thừa, sau khi Bác Hồ đọc thư chúc Tết qua Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, thì súng nổ rền khắp các thành thị miền Nam. Ta bắt đầu cuộc tấn công vào sào huyệt của địch. Nghe tin tức qua Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng, cả Đoàn hết sức phấn khởi. Mùng một Tết, có thư hỏa tốc của Ban Tuyên huấn tỉnh chỉ đạo Đoàn Văn công về ngay Trà Bông, xă Nhị Mỹ để tham gia cuộc tổng tấn công nầy. Khi Đoàn Văn công đến Trà Bông thì các bộ phận khác trong Ban như: Nhà in, Giáo dục, Huấn học, Tuyên truyền, Báo chí, Văn nghệ cũng có mặt đông đủ. Chú Sáu Xu, Ủy viên Ban Tuyên huấn phổ biến chủ trương: toàn bộ lực lượng nầy cấp tốc hành quân đến rạch Ông Tú, gần chợ An Bình. Khi bộ đội ta hành quân vào nội ô thị xã thì mọi người dùng xuồng, ghe đi đến cầu Đình Trung để chở thương binh, tử sĩ và chiến lợi phẩm về căn cứ. Lúc nầy, tất cả chúng tôi không cơm nước gì cả, bởi thời gian rất khẩn trương không thể nấu cơm được, mà chỉ ăn toàn là bánh tét của nhân dân cung cấp. Chờ ở rạch Ông Tú hai đêm, hai ngày nhưng ta chưa đánh chiếm được thị xã Cao Lãnh, chú Sáu Xu chỉ đạo thực hiện phương án hai. Đó là, toàn bộ xuồng, ghe và lực lượng quay về căn cứ chờ lịnh mới, riêng Đoàn Văn công sẽ biên chế thành một lực lượng gọn nhẹ gọi là “Đội Tuyên truyền Văn nghệ xung kích” khoảng mười lăm đồng chí, gấp rút hành quân đến thị xã Cao Lãnh để vận động quần chúng và binh sĩ địch nổi dậy phối hợp với cuộc tấn công của bộ đội ta. Toàn đội bỏ xuồng đi bộ đến chợ An Bình trên trục lộ 30, cửa ngõ vào thị xã Cao Lãnh. Dọc đường, máy bay trinh sát của địch - ta thường gọi là cào cào - phát hiện, quần đảo, lát sau pháo 105 ly từ Quảng Khánh bắn vào đội hình làm anh Trần Văn, y sĩ bị thương. Chúng tôi băng bó cho anh và chuyển về tuyến sau. Toàn đội tiếp tục đến chợ An Bình. Lúc nầy nhân dân ở đây đã tản cư hết. Chúng tôi cùng lực lượng bộ đội và cán bộ địa phương định đêm đến sẽ vào thị xã từ hướng cầu Đình Trung để phát loa kêu gọi binh sĩ địch nhưng sự phòng thủ và hỏa lực của địch ở đây rất mạnh, ta không thực hiện được kế hoạch. Hôm sau, chúng tôi tìm quanh chợ An Bình được chiếc xuồng cũ của dân đi tản cư bỏ lại, lần lượt đưa toàn đội qua sông, đi về hướng xóm Bún (phường III hiện nay). Trên đường chúng tôi đi ngang trận địa của ta mới đánh nhau với lính Biệt động 41 “Cọp Đen” của địch. Nhà cửa của dân còn cháy âm ỉ, gà, vịt, heo chết nằm rải rác, dân đã tản cư không còn người nào. Có một cây rơm còn sót lại, chung quanh máu đỏ cả một vùng, bông băng, giày lính, nón sắt bỏ lăn lóc, bừa bãi. Chắc đây là nơi tập trung bọn lính chết và bị thương để chuyển đi. Chúng tôi lượm ít đôi giày, nón sắt còn tốt đem theo diễn kịch. Đến xóm Bún, Đội Tuyên truyền văn nghệ xung kích liên hệ với lực lượng vũ trang và cán bộ địa phương để hoạt động. Các đồng chí cho biết, dân ở đây không còn nên không thể tập hợp được, đề nghị chúng tôi đến Tịnh Thới, ở đó bà con vẫn còn bám trụ tại chỗ. Đến chiều chúng tôi cùng địa phương đi lượm mấy con gà bị thương làm thịt ăn tối. Đây là bữa cơm đầu tiên của chúng tôi, sau mấy ngày “ăn Tết” chỉ toàn bánh tét mang theo. Đêm đến, toàn đội cởi đồ cho vào ni lon bọc lại làm phao, ôm lội (bơi) qua sông Cao Lãnh. Lên bờ phía Tịnh Thới, chúng tôi đi len lỏi trong vườn cây, trên đầu máy bay quần đảo bỏ pháo sáng, bắn hàng tràng đại liên đạn lửa sáng rực. Phía nội ô thị xã súng vẫn nổ vang rền, khí thế sôi sục. Khoảng mười giờ đêm toàn đội đến nơi an toàn. Nơi đây dân còn khá đông, chúng tôi phân tán ở một trong số nhà dân và cùng “ăn Tết muộn” với họ. Cả đêm lẫn ngày, cán bộ địa phương mời quần chúng tập hợp lại điểm, để chúng tôi tuyên truyền, vận động, kêu gọi nổi dậy phá thế kềm kẹp của địch và biểu diễn văn nghệ. Ở đây khoảng một tuần, toàn đội vượt lộ (từ Cao Lãnh ra Cầu Bắc) để đến xã Hòa An. Một tuần ở Hòa An, chúng tôi vẫn hoạt động như ở Tịnh Thới. Lúc nầy bọn giặc đã tăng cường lực lượng phản kích nhằm giải tỏa áp lực của ta lên thị xã. Chúng đánh liên tục hàng ngày, nên chúng tôi phải lội (bơi) qua sông Cao Lãnh, theo kinh Cả Đức về Bình Trị, xã Mỹ Ngãi. Gần một tháng hoạt động liên tục, chúng tôi rất mệt, nên về đến Mỹ Ngãi tôi đưa toàn đội đến nhà ông Sáu Tồn (em ruột ông nội tôi) để anh em nghỉ ngơi lấy sức. Bình Trị, Mỹ Ngãi là vùng ven thị xã Cao Lãnh, mới được giải phóng gần một tháng nay, đây là quê nội của tôi, gặp lại bà con ruột thịt nên rất vui. Vài hôm sau, chúng tôi và địa phương tổ chức một đêm biểu diễn văn nghệ thật hoành tráng, có làm sân khấu, đèn măng - xông, máy phóng thanh, chương trình dài hơn một tiếng, gần ngàn khán giả đến xem và bà con hoan hô nhiệt liệt. Ở đây được vài hôm thì địch lại phản kích đến, toàn đội rút về kinh Ông Kho hoạt động. Mấy hôm sau địch càn vào kinh Ông Kho, chúng tôi rút sang kinh xáng Nguyễn Văn Tiếp, xã Phong Mỹ. Sau đó ít hôm, toàn đội kết thúc đợt một tham gia tổng tấn công xuân Mậu Thân 1968, rút về hậu cứ an toàn.

            Đợt hoạt động nầy ngoài thắng lợi chung của quân và dân ta tấn công và nổi dậy đánh địch, Đội chúng tôi còn thu thêm lực lượng mới cho Đoàn Văn công khoảng mười người, đó là các đồng chí: Tùng Sơn, Liên Nhung, Thanh Trang, Lan Chi, Vân Thanh, Văn Út, Thanh Dũng, Tường Vân, Vạn Năng… Qua đợt hoạt động, Đội tuyên truyền văn nghệ xung kích chúng tôi được Ban lãnh đạo Đoàn Văn công biểu dương vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Riêng tôi còn có hai niềm vui là được đồng chí Minh Luân, phó Đoàn Văn công và đồng chí Văn Sáu, đội trưởng Tân nhạc giới thiệu và làm thủ tục đề nghị kết nạp Đảng; đồng thời vợ tôi sinh một đứa con trai lúc tôi đang tham gia cuộc tổng tấn công vào thị xã Cao Lãnh. Lúc cháu mới sinh, các đồng chí Tiểu đội 502 hành quân ngang qua nhà, đặt tên cháu là Khởi Nghĩa, để kỷ niệm cuộc “Tổng khởi nghĩa” xuân Mậu Thân. Một tháng sau đó, tôi về thăm con đặt thêm cho nó một tên nữa là Thanh Nghĩa.

Vui Tết trong những năm kháng chiến đối với chúng tôi là những kỷ niệm đẹp, mà bây giờ không thể có được. Tuy vật chất đơn sơ, thiếu thốn của hoàn cảnh chiến tranh, nhưng về tinh thần thì rất phong phú, dồi dào, tràn đầy tình nghĩa giữa cách mạng với nhân dân. Đây là nguồn sức mạnh vô hình, nhưng lại có tác động rất lớn vào tâm tư, tình cảm của mọi người, từ người dân đến cán bộ cách mạng. Nó đã biến thành sức mạnh vật chất để chúng ta có ngày 30/4/1975.

THANH TÙNG



 
     
  Cộng tác viên ( BÁO VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật








  • TẢN VĂN Má….. (24/04/2019)









  • thơ (05/04/2019)




  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |