Thứ Ba, ngày 16 tháng 7 năm 2019        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  24/04/2019  
  Hồi kí KHI TỔ QUỐC GỌI (tiếp theo kì trước)  
   Tôi muốn kể về tiểu đoàn chủ lực vang bóng một thời cùng với bài hát cũng nổi tiếng nhiều thời là Tiểu đoàn 307 do nghệ sĩ tài hoa Quốc Hương biểu diễn mà cho mãi đến ngày hôm nay tiếng hát vẫn còn vang vọng núi sông. Kể ra thì trong cả nước từ ngày thành lập Trung đội Giải phóng quân đầu tiên trước Cách mạng Tháng Tám, cho đến những Sư đoàn, Quân đoàn về sau này, tôi chưa hề nghe một đơn vị bộ đội nào mà bài ca nói về nó lại được mọi người khắp cả nước từ thế hệ này đến thế hệ khác, hoặc là nghe, hoặc là biểu diễn một cách say sưa hào hứng như đối với Tiểu đoàn 307 của đất Thành đồng Nam bộ:      
 
 


                                                                                 

                                                      

                        Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang

            Cửu Long Giang sông trào nước xoáy.                                                 

                        Ai đã từng nghe tiếng Tiểu đoàn

                        Tiếng Tiểu đoàn Ba Trăm Lẻ Bảy...

(Đại úy Đặng Văn Tỷ, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 307 thời kháng chiến chống Pháp)

   

Thiết nghĩ cũng nên kể đôi nét về Tiểu đoàn này theo một bài viết của Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh Khu 8:

“Năm 1947 Bộ tư lệnh Quân khu 8 đã tổ chức ra một đại đội xung phong được trang bị mạnh với vũ khí tốt và được huấn luyện toàn đơn vị chu đáo để kết hợp với các trung đoàn địa phương tổ chức các trận đánh lớn diệt nhiều địch và phát động du kích chiến tranh. Trận đánh Giồng Dứa là một thực nghiệm theo chiều hướng đó và đem lại thành công rực rỡ. Nhưng cơ động trên toàn quân khu mà chỉ có một đại đội thì quá nhỏ nên Bộ Tư lệnh Quân khu 8 đã quyết tâm tổ chức ra tiểu đoàn tập trung bằng cách chọn lọc rút từ các trung đoàn trong Quân khu mỗi nơi vài trung đội được trang bị vũ khí tốt và đầy đủ cùng với đại đội xung phong của Quân khu hợp thành, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Quân khu. Tiểu đoàn được tập họp đầy đủ tại Đồng Tháp Mười rồi đưa về huấn luyện tại Trường Quân chính Quân khu tại tỉnh Bến Tre và khi huấn luyện xong thì tổ chức lễ xuất quân cũng tại đây. Tiểu đoàn được đăt tên là 307, phối hợp chiến đấu với các trung đoàn trong Quân khu đánh các trận Mộc Hóa, các chiến dịch Cầu Kè, Trà Vinh vv... và sau này được cơ động trên chiến trường toàn Nam bộ, trực tiếp dưới quyền của Bộ Tư lệnh Nam bộ. Cho đến khi chiến trường Nam bộ chia thanh hai Phân Liên khu thì tiểu đoàn 307 trực thuộc Bộ Tư lệnh miền Tây Nam bộ. Như vậy Tiểu đoàn 307 sinh ra và trưởng thành trong phong trào chiến tranh du kích Nam bộ, nó thể hiện quá trình phát sinh và phát triển của chín năm chống Pháp ở Nam bộ. Nó cũng nói lên sự sáng tạo từ thực tế chiến đấu của chiến trường Thành đồng Tổ quốc trong cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”.  (Hồi ký “Gởi những người đang sống”).                                 

Về các cán bộ chỉ huy của các đơn vị kể trên, là con dân của đất Tháp Mười, sau này tôi được nghe kể nhiều về những chiến công lẫy lừng của một người con xứ Bắc mà từ thuở thiếu thời tôi đã rất thần tượng là ông Nguyễn Hữu Xuyến. Bao nhiêu năm chinh chiến, hết đánh Pháp rồi lại đánh Mỹ, ông quả là một người chỉ huy tài ba, đánh giặc khét tiếng, sau này được thăng cấp đến quân hàm Trung tướng. Nhưng qua câu chuyện bên lề, cũng nghe “khen” rằng vì là người có tài lại tốt tướng nên “Anh Tám Xuyến” lại được nhiều chị em mến mộ! Thật bất ngờ là đầu những năm 2000 tôi lại có dịp gặp chính ông tại Ban Bảo vệ Sức khỏe Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, tuổi đã ngoài tám mươi nhưng vẫn còn rất phong độ, tôi chợt nhớ tới một câu hát xuyên tạc rút từ bài “Giải phóng quân” thường được nghe thuở ấy nhằm chế nhạo các chị em ham “hướng thượng”: “Ra đi, ra đi, thề lấy chỉ huy...!.”

Sau khi đã quen với lối sống tản cư thì ông bà già cũng phải tìm cách làm ăn, bởi chẳng lẽ cứ ngồi không ở đó mà chờ đợi đến bao giờ? Má quyết định làm bánh phở để bán. Bởi nhà chú Ba đã có sẵn cối xay bột nên cũng không phải sắm sanh gì thêm, mà lúa gạo thì đã có sẵn trong bồ. Lúc này tôi và anh Bảy thay nhau xay bột, còn má thì chuyên tráng và xắt bánh. Vì ban ngày sợ máy bay nên chợ Cái Bèo chỉ nhóm từ nửa đêm đến sáng, cho nên chúng tôi phải thức sớm chở má ra chợ bán, và trong lúc chờ tan chợ thì chúng tôi lại thay nhau chèo xuồng cho ba tôi đi chài. Đi chài đêm phải mang theo cái đèn “hột vịt” để thấy đường gỡ cá, tuy nhiên ánh đèn thường tối tù mù nhiều lúc nhìn không rõ nên ba tôi thường bị cá trê, cá chốt đâm. Rất ngại những lần không may chài bị mắc gốc, bởi mỗi lần như thế ông đều phải cởi quần áo lặn xuống mò gỡ, mà đâu phải lúc nào cũng chỉ lặn có một lần đã xong! Thương nhất là những đêm gió bấc, trời lạnh buốt, mỗi lần lặn xong trèo lên xuồng ngồi thì nghe hai hàm răng cứ đánh bù cạp lụp cụp và khi cầm ngọn đèn đưa lên châm thuốc hút thì thấy rõ hai bàn tay run run, mặc dù trước khi đi ông đã uống mấy muỗng nước mấm cốt để chống lạnh, nhưng cũng không ăn thua. May mà thuở ấy tuổi ông chưa đến năm mươi tuổi, còn rất khỏe, nên cho dù chịu lạnh như thế mà về nhà cũng chẳng thấy làm sao. Cũng có những lần ông không đi chài đêm mà đi theo đám “chài cù”, thường bắt được nhiều cá to.

        Cứ thử hình dung cùng một lúc mà mươi, mười lăm chiếc xuồng chia đều bơi dọc hai bên bờ kênh với môt cự ly vừa phải, rồi cùng một lúc hướng mũi xuồng ra giữa kênh và bắt đầu quăng chài, cả chục miệng chài đồng loạt bung lên không trung tạo thành hai dãy dài các vòng tròn đều đặn và đây chính là những phút giây tạo hình đẹp nhất, để rồi lại đồng loạt chụp xuống mặt nước bao trọn cả một khúc sông, cá nào có thể chạy thoát, không vướng vào chài này thì cũng lọt vào chài kia. Ngày nay thì tôm cá đâu nhiều như trước để còn có dịp xem lại những cảnh tuyệt mỹ của lối “chài cù” thuở xưa!

            Vì ở chợ này chưa ai làm bánh phở nên ngày nào cũng bán hết, có đồng ra đồng vào, và cũng đủ cá tôm cho cả nhà ăn. Ngoài ra má còn làm kẹo đậu phộng bảo tôi chèo xuồng đi bán dọc theo kinh Nguyễn Văn Tiếp. Lần đầu chèo suốt buổi không bán được miếng nào, má lấy làm lạ, nhưng chợt nhớ ra, bèn hỏi: “Vậy mà mày có rao không?.” Tôi trả lời là không có. Lúc đó bà già cười và bảo sao tôi dại thế, bán trên xuồng mà không rao thì ai biết đâu mà mua! Nhưng bà đâu có biết rằng tôi thừa hiểu, chỉ vì mắc cỡ nên không làm như vậy đó thôi!

            Nhưng tình hình lại bắt đầu không yên, cứ cách vài ngày thì nghe tiếng mõ báo động tàu Pháp sắp chạy vào ruồng bố bắn phá. Và mỗi lần như thế thì đồng bào dọc hai bờ kinh lập tức bỏ nhà chạy sâu tận trong ngàn ba ngàn tư, túm lá đưng làm chòi che nắng che mưa, chờ đến khi có tiếng mõ báo yên mới dắt díu nhau trở về. Nhưng đã qua bao nhiêu lần như thế mà không thấy bóng dáng tàu bè Tây tà đâu cả, nên người ta cũng dần dần bớt sợ, chỉ cho đàn bà con nít chạy trước, còn đàn ông con trai thì nấn ná ở lại nghe ngóng.

            Một lần nọ nghe tin chắc chắn là tàu Tây sẽ vào, nhưng dù có mõ báo động mà tôi và vài đứa nữa vẫn chưa chịu chạy, lại nhân lúc nhà bác Ba vắng người mấy đứa cùng nhau rượt bắt con gà mái tơ làm thịt, rồi hái một trái đu đủ hườm hườm trộn gỏi xé phay chén ngon lành. Bụng nghĩ có nhanh nhất thì quá trưa Tây mới vô tới, còn dư thời gian để chuồn, và cũng sẽ đổ thừa gà mất là do Tây bắt. Thế nhưng đợi mãi đợi mãi cho khi có tiếng mõ báo yên mà chẳng thấy mặt thằng Tây thằng Tà nào cả. Buổi chiều về kiểm lại thấy mất gà và còn phát hiện một vài dấu vết còn rơi rớt của “cuộc chiến” khi trưa thì người nhà của bác Ba nhất quyết là “chuyện này chỉ có tụi thằng Phiên làm chớ chẳng có ai khác vô đây, bởi đâu có thấy bóng dáng tụi nó chạy ra đồng!.” Còn tôi thì một thời gian khá lâu không dám léo hánh tới nhà bác Ba, nhưng nhớ lại vẫn còn khoái chí.   

            Đề phòng mãi việc tàu Tây vào bố ráp nhưng không thấy, thì máy bay của giặc lại đến bắn phá bất ngờ. Nói bất ngờ vì trước đây cũng vài lần có máy bay bay qua, nhưng chỉ là những chiếc Dakota, loại chuyên vận tải hàng hóa, nên ít nhiều mọi người cũng có phần coi thường cho dù đã có đề phòng, nhóm chợ vào ban đêm. Cũng có người cho rằng nó bay chỉ để dọa người ta mà thôi! Thế mà vào một buổi trưa, vừa cơm nước xong chưa kịp nghỉ ngơi thì máy bay địch đã ào tới bắn dọc theo kinh. Loạt đạn đầu chúng bắn trúng vào chiếc ghe của gia đình đang đậu dưới bến và trong loạt tiếp theo của chiếc thứ hai đã bắn trúng đầu gối chú Tư Chiểu ở nhà kế bên, có mấy viên bắn rách bồ lúa, làm sạt một mảng lớn. Sau đó chúng còn tiếp tục bắn dọc lên hướng chợ Cái Bèo. Tuy máy bay đã bay xa nhưng mọi người còn chưa hết hoảng sợ, vẫn xoay xoay núp quanh bồ lúa, e nó còn đảo trở lại bắn. Tan cuộc chạy xuống xem thì thấy chiếc ghe đã bị lủng nhiều lỗ, nước chảy vào ùng ục, đang chìm dần, vô phương cứu vãn. Chạy sang nhà chú Tư thì thấy chú đang hai tay ôm đầu gối, máu chảy thấm xuống ống quần.

            Lại là một chuyện khôi hài có thật. Số là sau đó một thời gian khá lâu, khi mọi căng thẳng sợ sệt đã giảm bớt và vết thương trên chân chú Tư đã đỡ nhiều, thì trong một bữa nhậu mấy ông bên hàng xóm xúm lại ghẹo thím Tư, nói rằng thím thật là gan mà cũng thật là nhát, mặc dầu thấy chú Tư bị thương tét đầu gối như thế mà vẫn trơ trơ như đá, thế mà khi nhìn xuống dưới “cái đó”, thấy nó chỉ rách da sơ sơ thôi thì lại khóc hu hu! Thím Tư cũng chẳng vừa, chấn lại ngay: “Ừa, tôi là như vậy đó! Mà mấy ông cứ về thử các bà coi, có giẫy đành đạch khi đếm thấy thiếu một sợi lông của các ông không hả?”. Thế là mấy ông tởn luôn, cấm có dám mở mồm chọc tiếp!

                                                                                                               Tác giả: Nguyễn Long Trảo (còn nữa)

 

 
     
  Cộng tác viên ( Báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật















  • THƯ CẢM ƠN (24/06/2019)






  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |