Chủ Nhật, ngày 22 tháng 7 năm 2018        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  18/05/2012  
  Ký ức không quên  
      Trong cuộc sống chúng ta ai cũng có một ước mơ cho một ngày mai thật đẹp và vẫn biết con đường đi đến ước mơ ấy không hề dễ dàng, bằng phẳng. Đối với tôi, đi theo cách mạng, chấp nhận mọi gian khổ, sự hy sinh như một lẽ thường tình khi vừa lớn lên, mong đóng góp công sức nhỏ bé của mình vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc  
 
 

 


Hồi ký: Phạm Hữu, nguyên Chánh Văn phòng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp                                        

Một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời hoạt động của tôi, đó là cùng đồng đội từ biên giới Cămpuchia trở về miền Nam vào mùa thu năm 1974. Chúng tôi đi bộ theo đường giao liên về Mỹ Tho. Có khi đi cả ngày cả đêm, có khi đi ban ngày hoặc có đoạn chỉ đi ban đêm, cứ ổn thì đi, tùy thuộc vào tình hình địch. Đi trong 3 ngày tới trạm giao liên Ba Thu thuộc huyện Đức Huệ tỉnh Long An. Nơi đây đồng khô cỏ cháy, đất hoang hóa, không có một bóng người. Sau khi xếp đồ đạc gọn vô một góc, chúng tôi phải ra đồng cắt cỏ để vài ngày sau khi chúng tôi đi, đoàn khác đến có cỏ khô để nấu ăn. Ăn xong mỗi người còn vắt theo một hai nắm cơm để dành ăn, trên đường đi không có chỗ nấu. Giao liên thông báo chuẩn bị qua đoạn đường khó khăn, tôi vẫn chưa hình dung, đoán chắc “mấy bả” muốn “nắn gân” lính “kiểng” như mình thôi, chứ đi kiểu mấy ngày qua thì nhằm nhò gì. Thế rồi, thật ngoài sức tưởng tượng!....

Tới những cánh rừng tràm chồi. Cả một rừng tràm mới cao ngang đầu, cành tràm vượt lên khỏi nước khoảng trên 1 mét, mảnh mai, đung đưa. Chúng tôi phải lội trong nước mà đi để máy bay khó phát hiện dấu vết. Bây giờ tôi mới biết thật rõ hai từ tràm chồi là như thế nào!. Thật khủng khiếp bởi đó là rừng tràm bị bom, pháo bắn, thân chỉ còn trơ ra gốc cao từ 1-2 tấc. Gốc tràm dưới nước làm sao nhìn thấy, ai nấy cứ ào ào mà bước cho kịp. Những bàn chân trần mà đạp vô những gốc tràm gẫy đủ dạng bật túe máu, vài ngày bị thối, xúc móng, ngâm nước lá rễ tràm thối, buốt tới tận óc nhưng chỉ dám xuýt xoa. Đi tới chỗ dừng chân, ai cũng xin giao liên chút muối để tranh thủ ngâm bàn chân bầm dập, sưng húp, tê cứng, máu me trộn lẫn bùn đất. Sáng hôm sau vết thương chưa kịp khô miệng lại tiếp tục ngâm nước lội tiếp….. Chúng tôi luôn có một niềm tin ngày chiến thắng đang đến rất gần nên tất cả mọi đau đớn, gian nan, vất vả trên đường về không còn là gì nữa. Tôi chợt nhớ lại ngày đầu tiên được đi làm cách mạng, tôi đã nguyện nhủ dù gian khổ, hy sinh cũng không được nao núng. Và so với cực khổ khi ở nhà thì cái cực này chẳng thấm vào đâu.…..

Tôi sinh ra và lớn lên trong gia đình nông dân, giàu truyền thống cách mạng. Hàng ngày phải chứng kiến nhiều gia đình vợ lìa chồng, con mất cha, xóm làng tan hoang vì bom đạn Mỹ ngụy, phải sống trong cảnh lầm than, đói rét và khổ nhục. Được ông dượng, ông Tám Dân, lúc ấy là Phó Ban thường trực Tuyên huấn Khu 8, Khu ủy viên giới thiệu, đầu năm 1972, khi vừa học xong lớp đệ nhất (tương đương lớp 6 bây giờ), tôi thoát ly đi cách mạng, được vào làm tại văn phòng Ban Tuyên huấn Khu 8. Lúc ấy căn cứ của Ban có nhiều đơn vị nằm dọc theo tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia (còn gọi Bắc lộ 1), giáp các tỉnh Preyveng, Soai Riêng… Có lúc đơn vị di dời về vùng 7 Cầu, Tây Ninh (Khu Rừng Nhum) rồi luân phiên nhau xuống công tác ở chiến trường miền Nam.

Khối Văn phòng gồm các bộ phận: In ấn tài liệu tuyên truyền, đánh máy chữ, tài vụ và bộ phận bảo vệ. Tôi được phân công làm công tác tài vụ của đơn vị. Mỗi bộ phận có từ 4 đến 5 người, luôn trang bị gọn nhẹ, cơ động. Nếu gặp địch, có thể sẵn sàng chủ động chiến đấu, đánh địch. Kinh phí của cơ quan do Ban Kinh tài của Khu cấp, mỗi lần đi lãnh tiền phải mất từ hai tới bốn tiếng, có khi cả ngày đi bộ trong đường rừng mới tới được, vì mỗi Ban cách khá xa nhau và hay di chuyển để đảm bảo bí mật, an toàn. Chứng từ tôi luôn phải để các chứng từ trong túi nhái, ba lô đeo bên người. Không được để mất chứng từ, trong bất kỳ tình huống nào, dù chiến đấu hay giặc càn, đó là nguyên tắc, yêu cầu hàng đầu của công việc. So với bây giờ làm công tác tài chính lúc ấy khá đơn giản, chỉ rành phép cộng trừ nhân chia là được, người đi trước chỉ người đi sau vài ngày là biết, chứ có được đào tạo trường lớp nào đâu. Ngoài việc chính được giao, tôi thường anh em hỗ trợ nhau in ấn tài liệu, phát hành thơ, công văn, thậm chí mò cua bắt cá kiếm thức ăn cho cơ quan….

Chúng tôi đi mải miết đến tỉnh Mỹ Tho. Ở giữa đồng không mông quạnh, nước trong như mắt mèo, không có con cá nào sống nổi, thuộc loại phèn chua “đặc quẹo”, muốn nấu ăn được cơm chín, chúng tôi phải múc nước lên rồi thảy một đống tro than vào nước, đợi một hồi cho nước lắng cặn, bớt phèn mới dùng nấu cơm hay canh ăn. Khi cơm chín, mở nắp vung thấy những hột cơm màu xanh nhạt như đọt chuối non. Đồ ăn thì chỉ món nước tương và đọt choại (còn gọi đọt chạy, đọt chại). Đọt choại, một loại dây leo, thời chưa có dây nilon, người ta hay dùng loại dây này bện lờ, lợp, đăng để bắt cua, cá. Ăn nhớt nhớt, ngòn ngọt, ngon và dễ ăn hơn rau muống, luộc, ăn sống hay nấu chua rất ngon, đã có người nói, được coi là “món ăn mang đậm chất khẩn hoang thời cha ông ta đi mở cõi”, cũng may trong rừng còn có loại rau này mà ăn, để sống.

Muỗi thì khủng khiếp. Chập choạng tối là phải ngồi trong mùng, quơ nhẹ tay là nắm được cả nắm. Pháo nổ rất gần mới chui xuống công sự, khi máy bay bay đi mới lên trở vô mùng thì dù nhanh khéo cỡ nào cũng vài chục con vô theo. Mà cái thứ muỗi đói mới đáng sợ, nó như thèm hơi người hay sao ấy! chích vô người là muốn nhảy dựng…Có một câu nói đùa nếu anh em nào đã đi qua vùng này đều rất nhớ, đó là mới gặp hỏi thăm nhau làm quen: Quê anh ở đâu, “Quê tôi ở huyện “đọt choại” và tỉnh “nước tương”!....Thế là cả đám phá lên cười và thầm hiểu, anh đã được thử thách qua nơi gian khổ nổi tiếng khắc nghiệt này rồi. Ở đây hơn một tuần chúng tôi được lệnh hành quân về Chùa Phật Đá (còn gọi Trạm J54) thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Từ trạm giao liên này, đơn vị tiếp tục vượt lộ 4 (Quốc lộ 1A bây giờ) về xã Long Tiên huyện Cai Lậy Nam, tỉnh Mỹ Tho. Đoạn đường này rất nguy hiểm bởi đồn bót chúng bố trí dày đặc suốt tuyến Quốc lộ từ Sài Gòn về Mỹ Thuận, xe Mỹ ngụy tuần tra suốt đêm ngày. Đơn vị chỉ hành quân vào ban đêm, khi giao liên báo qua lộ, anh em đã chờ sẵn trong các lùm cây cách lộ khoảng 300 mét mới chạy ào qua bên kia lộ, tiếp tục chạy qua vài trăm mét, lội qua những cầu ngầm hay đìa đưng mới được dừng nghỉ tạm. Nếu trời mưa thì giao liên phải lót nylon cho anh em chạy qua, không sẽ bị lộ.

Lại nói về những cây cầu ngầm, thật không thể ngờ quân dân du kích ta lại nghĩ ra được loại cầu dã chiến thật công dụng, bí mật ngay trước mũi kẻ thù bao nhiêu năm mà chúng không thể nào tưởng tượng ra nổi. Đó là cầu được bắc qua những đoạn kênh sâu, đặt ngầm cách mặt nước khoảng 3-5 tấc, làm bằng tràm hoặc tre, trên là lục bình dầy đặc, khi làm cầu phải căn theo mực nước lớn, ròng, dù nước cạn, cầu cũng không thể nổi lên mặt nước, sẽ bị lộ ngay. Chỉ có anh chị em trong đơn vị cùng căn cứ mới biết rõ vị trí đặt những cây cầu đặc biệt này. Với phương châm: “Đi không dấu; Nấu không khói; Nói không tiếng”, tất cả anh em trong đơn vị đã hành quân về đến nơi trụ sở đóng quân của Khu 8 ở Mỹ Tho an toàn, đúng thời gian quy định, phục vụ cho chiến dịch của ta.

Ai cũng mong đất nước sớm được sống trong hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. Anh em rất đoàn kết, thương yêu, động viên nhau. Trước khi đơn vị hành quân, những anh em chưa đi dồn hết những “tài sản” của riêng mình như: quần, áo, đồ ăn, tiền bạc thậm chí cả nhẫn vàng gia đình đưa hộ thân cho người đi trước, bởi họ nghĩ anh em ra đi biết có ngày gặp lại hay không?!…Thế cho nên cái tình, cái nghĩa của anh em đồng đội từ ngày ấy đến tận bây giờ, với tôi, nó luôn và mãi thiêng liêng, cao quý, không bao giờ phai nhạt…..Ngày 30/4/1975, cả đất nước ca vang khúc ca khải hoàn, hòa bình độc lập, được phân công, chúng tôi nhanh chóng ra tiếp quản tại Khu Hành chánh thành phố Mỹ Tho. Những băng cờ, biểu ngữ, báo chí… đã được anh em thức cả đêm làm ra, nhanh chóng được chuyển đi treo dán các nơi cho nhân dân biết kịp tin chiến thắng của ta. Chúng tôi ở đó cho tới tháng 3/1976 cấp Khu giải thể, tôi được phân công về Sa Đéc công tác tại Ty Văn hóa Thông tin Đồng Tháp, sau được phân công về làm Chánh Văn phòng Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Đồng Tháp…..

Trải qua nhiều đơn vị công tác liên tục tới tận bây giờ nhưng với tôi, bốn năm ở Ban Tuyên huấn Khu 8, ký ức vẫn nguyên vẹn như ngày nào trong chiến khu xưa…

 
     
  Phạm Thị Toán ( báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • SÓNG (13/07/2018)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |