Thứ Hai, ngày 18 tháng 11 năm 2019        
     
 
   Diễn đàn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  07/11/2019  
  TRUYỆN NGẮN DỰ KIẾN ĐẠT GIẢI  
 

Ban Tổ chức Cuộc thi sáng tác truyện ngắn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long năm 2019 do Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp đăng cai tổ chức xin đăng lên vannghedongthap.vn những truyện ngắn dự kiến đạt giải với mong muốn: độc giả xa gần đọc và góp ý (nếu có):

1. Truyện ngắn có vấn đề "tranh chấp bản quyền" không?

2. Truyện ngắn đã công bố (đăng tải) trên bất cứ phường tiện thông tin đại chúng (báo chí, đài, mạng...) nào chưa?

Thông tin phản hồi xin gửi về: caivanthai@gmail.com.

Trân trọng cảm ơn.

 
 
 

NGUYỄN PHƯỚC THẢO

 

CĂN CƠ

 

Yêu một cô gái, yêu dữ dội, bị phụ, hắn khùng. Đang có vị trí cực tốt trong một công ty liên doanh, vì tình hắn bỏ sạch. Không có can đảm chết, hắn như con thú tật nguyền, sống dật dờ. Hắn sống, vì hắn còn mẹ. Hắn khổ, mẹ ôm hắn vào lòng:        

- Mẹ chỉ cần con sống… Cả thế giới còn lại, mẹ lo!

Hắn rút vào lòng mẹ khóc, khóc như chưa từng được khóc.

Hắn về với mẹ, một miền quê xa, một xóm nghèo bên dòng sông Tiền. Nơi đó, có một cội đa già trăm tuổi, một mái chùa rêu phong. Chiều chiều, hắn một mình ngồi đó, dưới cội cây già thẫn thờ nhìn hoàng hôn, đắm trong vệt nắng cuối ngày, bồng bềnh theo tiếng chuông trôi trên sông. 

*

Phịch.

Một cuộn dây quăng xuống cạnh hắn. Một ông sư già chợt hiện:

- Cái đó cho con!

Hắn nhìn cuộn dây rồi ngước nhìn sư:

- Tại sao?

Sư làm thinh chỉ tay vào cuộn dây, chỉ vào hắn, chỉ tay vào một nhánh cây chìa ra sông và ra một dấu hiệu kết thúc. Hắn nhíu mày, giọng gay gắt:

- Treo cổ tự tử? Ông bảo tôi chết à?

- Đúng vậy! Con người có sinh ắt có tử, dẫu sống rồi cũng sẽ chết, chi bằng dứt khoát không chào đời. Sự tồn tại của con, với bản thân con đã thừa, vậy thì kết thúc sớm đi… Biết đâu, kiếp sau sẽ là một hảo hán…

Hắn lặng đi. Trước hắn, vệt nắng cuối ngày lấp loáng trên sông, chạy tít về phía chân trời.

- Hoa lan sinh ra từ khe núi, không vì không có người yêu thích mà không thơm. Trăng treo trên trời không vì khi tròn khi khuyết mà không tự tròn. Đào mận không vì mùa thu sắp đến mà không trổ hoa. Nước sông chảy xiết không vì cơn thủy triều mà từ chối xuôi ra biển… Huống chi con người!

Nói xong, sư phẩy tay áo bỏ đi. Hắn vẫn lặng thinh ngồi đó, nhìn như hôm nay nắng gắt hơn mọi ngày. Tia nắng chiều trượt trên sóng, đi thẳng vào mắt hắn lập lòe… Hắn thấy mắt mình cay cay, những dòng lệ ứa ra từ tim, nóng hổi.   

*

Thời sinh viên, hắn là họa sĩ có tài. Tranh hắn vẽ từng triển lãm. Bởi thế, chưa ra trường, hắn được một công ty liên doanh mời chào. Với họ, hắn là con người của sáng tạo.

Hắn là người giàu cảm xúc. Mà người giàu cảm súc thường bị sốc phản vệ.

Hết sốc, hắn sáng tạo. Được sư chấp nhận, hắn mô phỏng bức họa Long tranh hổ đấu trên bức tường trước chùa. Trong tranh, rồng cuộn quanh đám mây, hổ ngồi xổm trên núi trong tư thế vồ. Tuy chỉnh sửa nhiều lần, nhưng hắn vẫn cảm thấy thiếu thiếu… Bức tranh tuyệt đẹp, nhưng hắn vẫn không hài lòng. Tranh hắn vẽ, ai nhìn cũng khen. Không cần khen, hắn cũng biết tranh của hắn cực kỳ sinh động. Xưa, hắn nổi tiếng vì sở hữu một nét vẽ thần. Vẽ cái gì là hắn truyền được cái thần vật đó vào tranh.

Hắn tìm sư, nói nỗi lòng của mình. Nghe xong, sư cười:

- Kinh Phật có một từ rất hay, từ ngộ. Trong lĩnh vực mà con đam mê, con đang trên đà của thể ngộ.

- Thưa sư, con vẫn chưa hiểu?

Sư dẫn hắn đến trước bức tranh:

- Ngoại hình của rồng và hổ, con vẽ rất tốt. Nhưng con biết hết về đặc tính của chúng chưa? Điều con cần hiểu là trước khi rồng tấn công, đầu phải rụt về sau. Khi hổ sắp vồ, đầu phải mọp xuống thấp. Độ rút về sau của rồng càng lớn, đầu hổ càng áp sát mặt đất thì khi tranh, độ tranh mới dữ dội.

Lời sư như tiếng chuông. Hắn bừng… ngộ.

- Sư phụ, người nói rất đúng! Con vẽ đầu rồng quá hướng về trước, đầu hổ quá cao. Thảo nào, con luôn cảm thấy thiếu sinh động, không truyền được cái thần của bức tranh.

Sư nhìn hắn:

- Người tu đạo tham thiền, người xử thế cũng thế. Lùi một bước để tiến xa hơn. Biết khiêm tốn khép mình, người mới có cơ hội bay lên cao hơn.

- Sư phụ, người bước lùi sao có thể tiến lên, khiêm tốn sao có thể bay cao hơn được?

Sư nghiêm mặt:

- Tay cầm mạ non cấy khắp ruộng, cúi đầu sẽ thấy trời trong nước. Thanh tâm, thanh tịnh mới là đạo. Lùi bước vốn là tiến lên.

C… o… o… n… g…

Tiếng chuông chùa đột ngột vang lên thật trùng hợp, thật tự nhiên… Hắn chợt nhận ra một thanh âm lạ, đánh sâu, sâu… thật sâu vào trong tiềm thức.

*

- Em đẹp, em có quyền!

Nàng thích câu nói của anh. Trước khi nghe anh nói, nàng đã biết điều đó. Nhưng khi nghe, nàng vẫn thích. Nếu người nói không phải là anh, câu đó đúng một nửa. Câu đúng phải là: Em giàu, em đẹp, em có quyền! Vì nhà anh cũng giàu, nên nàng công nhận lời anh chuẩn.

Khi cuộc sống quá đủ, người ta có quyền lựa chọn. Giữa muôn trùng những chàng trai, nàng chọn anh. Anh đẹp giai, anh giàu có, anh lịch lãm… Nói chung, anh một chuẩn hot boy. Nhưng nàng chọn anh không phải vì điều đó. Nàng thích anh vì anh tinh tế, anh hiểu nàng. Hiểu nàng đến độ nàng phát sợ. Có những điều trong nàng chỉ là ý tưởng, chưa nói ra, vậy mà anh cũng hiểu. Hình như anh được sinh ra là để sống vì nàng. Nghĩ vậy, nàng thấy cuộc sống thật đáng yêu, ngọt ngào.

Biết nàng thích hội họa, thành phố có triển lãm tranh, anh đều đưa nàng đến xem, thưởng lãm. Thấy nàng có dấu hiệu thích bức tranh nào, anh lặng lẽ mua tặng nàng. Nàng thích chụp hình, mê phong cảnh, anh tạo mọi điều kiện đưa nàng đi đến những nơi nàng muốn.

Nàng chỉ buột miệng hỏi:

- Mùa len trâu là gì?

- Là mùa trâu lội nước! Cảnh đó, lũ miền tây thiếu gì!

- Thiếu là hổng có, là hiếm phải không?

- Anh có người bà con ở Đồng Tháp, để anh lo!

Tưởng nói chơi nhưng anh lo thật và lo chu đáo. Theo lịch, chiều họ đến nhà người bà con của anh. Ở đó, họ được đãi lẫu mắm cá linh bông điên điển, món đặc sản của dân Đồng Tháp. Tối, đi tham quan chùa Đa, ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng vùng đó. Sáng sớm hôm sau, ra đồng chụp len trâu. Trưa, được thưởng thức món bánh xèo. Đoàn chỉ năm người, anh mời hai người bạn, nàng mời Ngọc, nhỏ bạn thân. Được tin, Ngọc reo:

- Sướng quá, bạn thân có soái ca thích thật! Hoan hô những cuộc vui không tốn xèng. 

- Ổng có men tí nào đâu mà gọi là soái ca.

- Trời! Ổng đẹp trai, giàu và chăm mày đến như vậy… Có người yêu như vậy, đốt đuốc cũng tìm không ra.

Nàng cười:

- Yêu hà? Tao chỉ thấy giống giống yêu, chớ chưa phải là yêu.

- Thôi bà, vậy như thế nào mới là yêu?

- Biết chết liền! Đọc tiểu thuyết, nghe tả yêu là cảm giác reo vui tim chớ không phải nhận biết bằng cái đầu. Yêu là yêu, là… gặp nhau, là con tim tự nó nhảy múa reo mừng, cái miệng tự cười mà không cần biết lý do. Còn yêu là vì anh đẹp trai, anh chân tình, anh chu đáo, anh vâng vâng và vâng, tao thấy hơi sai sai. Cái đó chỉ giống giống yêu thôi! 

- Xàm! Mấy cha nhà văn khéo tưởng tượng… Tin mấy chả, chết mà không hiểu vì sao.

Nàng nhún vai:

- Mày có biết cuộc sống này còn có từ cảm không?

Ngọc rờ trán nàng:

- Biết! Mấy người bị ấm đầu, người ta thường gọi là cảm.

Cả hai nhìn nhau cười.

*

Sau cái thời ngồi thừ lừ như con thiềm thừ dước gốc cây đa, hắn tỉnh. Hết khùng, nhưng trong mắt người làng, hắn vẫn là thằng khùng, khùng vì hắn sống chẳng giống ai. Rảnh, hắn xách máy ảnh đi lang thang khắp nơi, chụp bất cứ thứ gì hắn gặp. Từ con vịt, cọng cỏ, lá tre, ly cà phê, bông hoa dại, thích là hắn chụp, chụp không suy tư, miễn cảm là hắn chụp. Bận, hắn lao đầu vào vẽ. Vẽ như không còn thời gian vẽ. Vẽ như ngày mai là ngày sau cuối. Hên, hắn có mẹ, một người mẹ bao dung, một bà mẹ đúng nghĩa: Con thích, con cứ vẽ, thế giới còn lại, mẹ lo! 

Hắn có một phòng vẽ. Phòng vẽ của hắn là một cái chái bên hông ngôi nhà cổ, ngôi nhà truyền thừa từ cụ tổ. Thằng Phong bước vào phòng vẽ, ngắm nghía bức họa:

- À! Cái này cậu vẽ cái doi chùa Đa làng mình phải không?

- Nhìn biết còn hỏi! Mày đi đâu?

- Con tìm anh em thằng Tưng, thằng Tửng, kêu tụi nó sáng mai cởi trâu cho người ta chụp hình. Độ này lớn nghen cậu! Họ đòi huy động hết bầy trâu nhà mình, giá bi nhiêu thì bi. Phe này bà con của ông Thời xóm trên, dân Sài Gòn về.

- Đủ người chưa? Sao không kêu tao?

- Trời! Con sao dám kêu cậu!

- Sợ tao chia tiền của tụi bây à?

- Trâu là trâu của cậu mà… Cậu cho tụi con hng hết…

- Được rồi, mấy giờ? Lâu lâu cỡi trâu cho vui… Lão Đại cũng còn gân hả? Sẩy siếc gì nỗi không?

- Lão Đại còn khỏe như trâu! Nó là con đầu đàn mà…

Hắn quay nhìn thằng Phong:

- Nó là trâu, không khỏe như trâu thì khỏe như cái gì, như mày hả?

Thằng Phong ngớ cái mặt ra rồi lấy tay gãi gãi cái đầu:

- Ừ hén… Nó là trâu mà! Để con cho tụi nó hay. Biết ngày mai có cậu, tụi nó mừng khoái tỉ.

Nói xong, nó chạy cái vù ra ngõ, rồi cũng cái vù quay lộn trở lại:

- Cậu, có tiền, mình tổ chức gì đi! Lâu lắm rồi, cậu hổng có chơi với tụi con.

Hắn phẩy tay:

- Tùy, tụi bây muốn gì cũng được!

- Hay mình đổ bánh xèo đi! Thằng Tú, con Đào hứa chiều về. Biết có cậu, tụi nó mừng cho coi…

Hắn nhìn vào nhà rồi quay nhìn thằng Phong:

- Làm ở đâu? Dạo này, bà không được khỏe đó nghen!

- Câu khỏi lo, chuyện đó để con! Cái trại giữ trâu nhà con ngoài đồng đó, rộng chán.

- Ừ, nhớ kiếm con vịt xiêm… Đổ bánh xèo, nhưng vịt xiêm mới ngon.

- Dạ! Con biết rồi…

*

Đêm miền Tây tuyệt đẹp. Nó đẹp làm nàng sững sờ. Dòng sông rộng, ánh trăng tròn. Những cơn sóng lấp loáng ánh bạc vờn đuổi nhau, nô đùa trên mặt sông. Gió lùa vào tóc, gió mơn man, ve vuốt khuôn mặt. Lá lao xao, xào xạc, thì thầm bên tai nàng như một lời chào.    

C… o… o… n… g…

Tiếng chuông vang lên, ngân nga, đu đưa… Nàng cảm nhận cơ thể mình rung lên, cảm nhận những cơn sóng trên sông nhổm lên nheo nheo, nhảy múa bồng bềnh theo tiếng chuông. Nàng cảm nhận được một niềm vui, nó tràn ngập trong nàng rồi tỏa ra trên từng tế bào. Nàng thấy mình chông chênh, bồng bềnh như một người say. Nàng thảng thốt khi thấy điều bất thường đó. Vì sao, vì sao? Nàng đi nhiều và tận mắt chứng kiến, tận mình đắm chìm vào khung cảnh còn đẹp hơn, hùng vĩ hơn, hoang sơ hơn… Nhưng chưa bao giờ, nàng có cái cảm giác tuyệt diệu như lần này. Cái đẹp đến với nàng không phải bằng nhận thức. Cả cơ thể nàng vượt qua lý trí, vượt lên nhận thức, rồi hòa quyện với thực tại…

Nàng cười khi phát hiện ra điều đó và tự hỏi: Lẽ nào mình có duyên với vùng đất này?

- Ủa! Nãy giờ mày đứng đây?

- Từ lúc mày rời đi, tao vẫn đứng đây!

- Vậy, chàng của mày kiếm hoài không thấy. Tao chỉ mày đứng đây, ổng nói ra tận đây mà vẫn không thấy, giờ táo tác tìm khắp chùa.

Nàng cười. Lúc nãy, nàng có thấy anh, đến thì hấp tấp, đi thì vội vàng… Nhưng lúc đó, nàng đắm trong một không gian lạ, nàng không lên tiếng... Thì ra, anh tìm nàng.

Ngọc nhìn sững nàng:

- Ôi trời! Sao hôm nay mày cười đẹp vậy? Cái mặt mày nó liêu trai làm sao! Xin lỗi, chịu hổng nổi…

- Khùng!

Rồi Ngọc thì thầm vào tai nàng:

- Hồi nãy trong chùa, tao nghe người ta nói cây đa này linh lắm, khấn gì được đó, nhứt là chuyện tình duyên.

Hèn gì! Giờ nàng mới để ý, người đến cầu nguyện khá đông. Họ trang nghiêm khấn dưới một gốc cây, nơi đó có một cổ hương to, nghi ngút khói. Lúc mới đến, nàng không để ý cội đa, nàng đi thẳng lướt qua. Lúc đó, nàng chỉ nhìn thấy dòng sông, một dòng sông mênh mông huyền ảo.  

- Mày có khấn gì không? Mà thôi, mày đã có sói ca, còn gì mà khấn!

Nàng ngước nhìn, trong đêm, cội đa già hiện ra trong bầu trời thật đẹp, thật hùng vĩ. Nàng đã từng nhìn thấy nhiều cội đa già, những cội cây trên vài trăm tuổi, nhưng không cội cây nào có dáng dấp uy nghi, hùng vĩ như thế này. Với đa, rễ cắm xuống đất thành thân. Cội đa này đã trên trăm năm. Gốc đa to, bề thế, hình thành bởi bốn thân, tạo nên hình tứ trụ đều nhau. Thoạt nhìn, không biết đâu là thân chính. Bốn thân xù xì, gân guốc, dáng như chân hổ vững chãi, bám vào đất. Tán cây vươn lên bầu trời, xòe ra mang dáng rồng. Thế cây như thần mộc. Dân chúng đồn đại linh thiêng là có lý do. Nhìn cổ hương đặt cạnh một thân, nàng đoán chắc đó là thân chính.

Miệng nói vậy nhưng Ngọc vẫn kéo tay nàng đến trước cổ hương, khấn. Tin nên Ngọc khấn rất thành khẩn. Còn nàng, trước một cội cây tỏa ra nhiều linh khí… nàng thấy mình quỳ xuống, thì thầm khấn ước điều sâu kín tận đáy con tim.  

Khi cả hai đi về hướng chùa Đa, Ngọc nói:

- Mày thấy lạ không?

- Lạ gì?

- Những người khấn sau mình, hình như họ như là quan chức?

- Rồi sao?

- Hổng lẽ họ cũng cầu duyên?

Nàng cốc đầu nhỏ bạn.

- Điên, mày mới cầu duyên, còn họ cầu tài. Thăng quan phát tài đó, biết không?

- Thần thánh nào mà chứng ba cái đó!

- Không lẽ thần thánh chỉ chứng cho mày mà không chứng cho họ!

- Nhưng tao chỉ cầu duyên, tao không có cầu tiền, tao hổng có tham. Điều tao cầu, không có làm khổ thần thánh…

Nàng phì cười:

- Tham như nhau thôi!

- Vậy mày có tham không? Tao khấn tao chưa quỳ, còn mày quỳ luôn nữa kìa… Tính ra, mày còn tham hơn tao.

- Ừ, tao đâu nói tao không tham. Vì tham, tao mới quỳ.

Ngọc nằn nì:

- Mày cầu gì, nói nghe đi!

- Mày nói trước đi!

- Tao cầu rất đơn giản, cầu được người yêu tao giống như người yêu mày…

Nàng cười, nụ cười bâng quơ:

- Tao cầu còn đơn giản hơn, cầu gặp được người yêu thiệt, đừng giống giống yêu như bây giờ…

- Hiểu chết liền!

- Tao cầu, tao còn không hiểu, mày sao hiểu!

Không hiểu nổi! Nàng không hiểu vì sao nàng lại quỳ, lại khấn và lại nói ra điều thầm kín đó với Ngọc. Nàng viếng nhiều chùa chiền, miếu mạo, đi nhiều nơi nổi tiếng linh thiêng, nhưng chưa một lần khấn. Cầu người chi bằng cầu mình. Vì điều tâm đắc đó, nên trước thần, trước Phật, nàng chỉ thắp nhang kính bái mà chưa một lần khấn nguyện.

Đêm nay là một đêm huyền diệu. Nhiều điều lạ ập đến làm nàng ngỡ ngàng. Thật mà cứ tưởng là mơ. Tưởng chỉ có dòng sông, cội đa già, đêm trăng huyền ảo mới hút cạn cảm xúc trong nàng, nào ngờ ngôi chùa mới là tác nhân chính. Nói chính xác, bức bích họa phía trước ngôi chùa đã cuốn hết cảm xúc của nàng, biến nàng thành xác khô lơ lơ lửng lửng. Nàng trân trối thấy mình đứng đó, chìm vào bức Long tranh hổ đấu, thấy rồng cuộn thân uốn lượn thu mình ẩn trong mây chực chờ, nghe được tiếng hổ gừ gừ, hườm hườm tranh nhau với rồng viên châu lấp lánh.

- Minh! Minh!

Ngọc phải vỗ vai nàng mấy cái thật mạnh mới làm nàng bừng tỉnh.

- Gì ạ? Có gì không?

- Mày làm gì như người mất hồn?

Nàng nhìn vào bức tranh rồi quay nhìn Ngọc:

- Xem tranh thôi! Mày có xem không? Thấy bức tranh này có gì lạ không?

Ngọc ngó ngược, ngó xuôi bức tranh một lúc:

- Long tranh hổ đấu, tranh này đi chùa gặp hoài, đâu có gì lạ!

Nàng nhắm mắt, lấy tay gõ gõ lên trán:

- Tao có cảm giác bị nó hút. Tao thấy lạc, nhìn thấy rồng bay, nghe được tiếng hổ gầm…

Ngọc rờ trán nàng:

- Mày cảm thiệt rồi! Trán mày nóng hơ.

Nàng tự rờ trán mình và tự cảm nhận trán nàng nóng ấm hơn lúc bình thường. Ừ! Chắc có lẽ mình bị cảm, hoa mắt. Chỉ mới nghĩ thôi thì một cảm giác mệt mỏi ùa đến làm nàng choáng váng, lảo đảo:

- Ừ! Chắc tao bị cảm thiệt rồi…

Ngọc dìu nàng lại ngồi xuống một băng đá góc sân rồi điện thoại cho anh. Bọn họ lăng xăng đưa nàng ra xe. Lúc đi ngang bức tranh, không kìm được, nàng lại liếc nhìn… Nàng rùng mình. Nàng thấy con rồng từ trong đám mây, thò cái đầu ra, giương đôi mắt tròn xoe nhìn nàng đầy vẻ hiếu kỳ… Nàng thấy mình nhắm mắt và lịm đi, gục đầu vào vai Ngọc.

*

Nàng ngỡ mình sẽ lỗi hẹn với buổi sáng chụp len trâu, nhưng không ngờ sau một giấc ngủ sâu, khi tỉnh, nàng thấy mình khỏe, thấy cơ thể tràn trề sức sống. Nàng nhớ mang máng lúc đêm, anh cố ép nàng uống một liều thuốc cảm. Hiện liều thuốc còn nguyên. Vậy nàng khỏe không phải do thuốc. Chuyện lúc đêm hiện ra trong nàng như khúc phim quay chậm. Hình ảnh chi tiết rõ ràng như phim 3D. Đôi mắt con rồng tròn xoe nhìn nàng hiếu kỳ vẫn còn đây. Rõ ràng ràng… Không lẽ, nàng có duyên và chạm được khí linh của vùng đất này.

Miền Tây là vùng đất Phật, đi đâu cũng thấy chùa, đi đâu cũng thấy sông. Chiều chiều, tiếng chuông trôi trên sông hòa vào nước, thấm vào đất. Sông Tiền, sông Hậu, những dòng sông có từ nghìn năm, chảy từ nghìn đời. Dòng chảy đó đã tạo ra nhiều vùng đất mới và chính nó cũng từng cuốn trôi, chôn vùi không ít những địa danh. Đã như vậy thì đừng nói đất địa đồng bằng không linh. Có điều, khí linh vùng đồng bằng khác với miền núi. Rừng thẳm núi cao, nơi đất trời hòa nhau làm một, khí linh hội tụ, sự linh thiêng hiện ra lồ lộ, làm kinh động lòng người. Còn đồng bằng, đất với người hòa nhau làm một, khí linh lẫn trong nước, thấm trong phù sa, đọng ở vực, lắng ở vàm. Khí nhẹ, chỉ chạm người có duyên. Biết điều đó, nàng đâm ra phân vân, không lẽ mình có duyên? Duyên hay không, chưa biết, cái biết là từ lúc đặt chân đến đây, nàng cứ ngỡ mình mơ.

Để chụp cảnh bình minh trên cánh đồng nước, nhóm của nàng khởi hành từ lúc 4 giờ sáng. Thấy nàng tỉnh rụi, ai cũng ngạc nhiên. Ngọc kéo nàng ra ngắm nghía như là sinh vật lạ:

- Mày có bị gì không?

- Bị gì là bị gì?

- Chơi với mày bao lâu nay, chưa bao giờ thấy mày lạ. Từ hôm qua tới giờ, mày lạ một cách kỳ lạ, như người say, lơ lơ, tỉnh tỉnh.

- Tao thấy bình thường mà! Người bị gì là mày á!

Mùa lũ, cánh đồng nước bao la. Một con đê vắt ngang chia cánh đồng thành hai nửa. Chiếc xe 7 chỗ chạy trên con đê tiến sâu vào rốn, rồi dừng trước một chòi lá. Bước ra khỏi xe, nàng bị choáng. Nàng không nghĩ buổi sớm trên đồng lũ đẹp đến độ như vậy. Trời hừng hừng sáng, bóng tối nhạt dần. Tít tít xa, tận chân trời, một vầng mây ửng lên màu hồng, rồi ánh hồng lan nhanh sáng rực lên. Mặt nước in cả một bầu trời với những ánh mây hồng đẹp lung linh.          

Bíp… crắc… bíp… crắc… bíp… crắc…

Tiếng khóa nét, tiếng màn trập chiếc máy ảnh Nikon 850 trên tay nàng vang lên liên tục. Ống tele Nikon - nano với dãy tiêu tự từ 80 - 400, nên hỗ trợ bắt sáng cực tốt. Nàng tha hồ sáng tác. Trời ạ, trong màn sương trắng nhàn nhạt, một đàn trâu hiện ra. Đàn trâu khoảng năm sáu chục con, chúng lội bì bỏm ăn cỏ trên đồng nước. Nàng thấy mình bị hút vào trong kính, say sưa bắt những hình ảnh đẹp, hết cận rồi toàn. Thích, nàng đặc tả, lấy được bóng con trâu và người cưỡi đối xứng nhau qua mặt nước. Trời im, mặt nước phẳng lặng. Đồng nước biến thành một tấm gương khổng lồ để bầu trời soi bóng. Những ánh mây hồng in trong nước rực lên huyền ảo. Vẫn biết chụp nhiều là thừa, nhưng trước một khoảnh khắc đẹp, nàng không muốn buông bỏ, bắn cho đã cái tay, no con mắt. Bỗng... một vài hình ảnh thân quen lướt qua trong ống kính, who, why? Nàng và vùng đất này mới giao tiếp lần đầu, không quen, vì sao có cảm giác thân? Nàng rà lại những hình ảnh vừa lướt qua, tầm soát từng chi tiết… Đây rồi, một khuôn mặt lạ hoắc, nhưng khi nhìn, nàng lại thấy thân quen, quen đến độ như hắn là người yêu của nàng từ đâu trong kiếp trước. Trong khi đầu óc nàng đang tự suy, tự nghĩ, tự lý giải một cách logic nhất thì mắt nàng, tay nàng như máy, lấy nét, bắt hình của hắn trong mọi góc độ. Hắn cười, nói, ra lệnh, nhếch môi, và hắn nhìn nàng… Nàng có cảm giác, hắn biết nàng chụp hình hắn. Lâu lâu, ánh mắt hắn nhìn thẳng về phía nàng, nhìn chằm chằm, mí mắt không chớp nữa mới ghê. Đó chỉ là cảm giác! Khoảng cách gần bốn năm trăm mét, làm sao hắn biết nàng đang nhìn thẳng vào mắt hắn. Công nhận hắn có đôi mắt đẹp. Mắt hắn đen, mạnh mẽ, tự tin. Bọn chăn trâu có sáu tên, hắn là người lớn tuổi nhất, chắc U30 đời cuối. Bốn tên còn lại thuộc U30 đời đầu. Một thằng nhóc khoảng khoảng U20 đời giữa. Bọn họ ngồi trên lưng trâu và vung vẫy cây roi, lùa đàn trâu đi về phía nàng đang đứng.        

Hắn là ai? Vì sao lại tạo trong nàng một cảm giác thân thiện?

Bọn chăn trâu đều cởi trần. Hắn cũng vậy. Hắn cũng để trần phần thân, đầu chít cái khăn rằn. Hắn có thân hình đẹp, đẹp hài hòa, cân đối chớ không phải vai u thịt bắp như mấy anh chàng tập gym. Thoạt nhìn, hắn không đẹp, không nổi bật, không có nét độc lạ, không gây chú ý. Nhưng càng nhìn, nàng càng thích. Mọi chi tiết trên con người hắn hòa quyện, trộn lẫn vào nhau, chỉ để thể hiện một điều duy nhất: men. Và khi nhận ra chất men từ hắn, tự nhiên nàng thấy hắn đẹp, nhìn từ góc nào cũng đẹp… Trời ạ, giờ thì nàng đã biết vì sao thấy hắn thân quen. Hắn chính là hình mẫu mà nàng từng nặn ra trong đầu, từng thầm ước… Lẽ nào? Lẽ nào lời khấn của nàng dưới cội đa già đã được chứng và trời xanh cũng thật trớ trêu khi ban cho nàng một chàng trai theo như ước nguyện qua hình hài của một thằng chăn trâu. Nghĩ tới đó, tự nhiên nàng như quả bóng xì hơi, mất hứng.       

Kệ! Chuyện nàng khấn chỉ nàng biết, hắn không biết, sá gì. Chiều nay, nàng đã rời xa vùng đất này và không bao giờ quay lại. Cái gì thích cứ thích, cái gì đẹp cứ chụp, mắc mớ gì nghĩ nhiều cho mệt. Nghĩ thế, ống kính trên tay nàng cứ bắt chết lấy hắn. Thích thì bắn cho đã tay, có hình để ngắm cho vui, hihi…

Mãi đến khi hắn hiện lộ lộ bằng xương bằng thịt trước mặt, nàng mới hạ ống kính. Và khi hạ ống kính, nàng mới phát hiện trong nhóm, ai cũng nhìn mình. Có người còn cười tủm tỉm chọc quê… Nàng làm mặt tỉnh, phớt lờ. Liếc xéo hắn bằng đuôi mắt. Mặt hắn ngơ ngơ. Vậy là hắn không phát hiện điều bất thường nơi nàng, hú hồn. Làm tỉnh, nàng giả nai ngắm hắn như bao người… Nhìn gần, nhìn bằng mắt thật, tự nhiên tim nàng rung lên nhảy loạn. Một cảm giác huyền diệu lạ kỳ lướt quá làm nàng choáng. Trong nàng, từng tế bào reo lên nhảy múa… Chúa ơi! Không lẽ mình bị sét?

- Thôi bà, mê trai thì mê vừa vừa, mê lộ hà… Mê hết phần của người ta.

Ngọc cười, choàng tay qua vai nàng nói nhỏ.

- Mày mê chớ tao mê gì cái thằng chăn trâu! Tao thấy lạ, nhìn hắn men. Men lạ luôn!

- Men thì có men, nhưng lạ là chỉ có mình bà… Anh của bà đang nhìn bà lôm lôm kìa.   

Nàng quay nhìn và thấy anh nhìn nàng chăm chăm, ánh mắt anh dò xét… Nàng nhìn anh cười. Anh bước tới bên nàng:

- Em vui không?

- Vui, rất vui… Buổi sáng nay thật tuyệt vời, quá nhiều hình đẹp. Cảm ơn anh, cảm ơn rất nhiều!

- Vì sao?

  Nàng nắm tay anh:

- Cảm ơn vì anh đã đưa em về đây, một vùng đất đánh thức trong em nhiều cảm xúc. Em không nghĩ chuyến đi này, em có nhiều hình đẹp đến vậy.

- Em thấy thích, thấy vui… anh mãn nguyện.

Nói chuyện với anh nhưng mắt nàng vẫn quan sát hắn. Hắn bước tới, chẳng nhìn mặt ai, mắt lướt qua từng chiếc máy ảnh trên tay thành viên nhóm nàng rồi dừng lại nấn ná hơi lâu nơi chiếc Nikon 850 nàng cầm trên tay. Sau đó hắn mới dời mắt lên, nhìn vào mặt nàng, nhìn sâu vào mắt… Mặt hắn tỉnh rụi, lạnh tanh. Nàng có cảm giác trong mắt hắn, nàng không bằng cái máy ảnh. Tự nhiên nàng thấy hụt hẫng… Lẽ nào hắn không biết nàng đẹp. Trước nàng, chàng trai nào cũng cúm… Hắn là ca đầu tiên. Ôi giời, so đo chi với một thằng chăn trâu… ở quê. Tuổi như hắn, con cái đùm đề… Tự nhiên, nàng thấy mình buồn cười…

- Trong mấy người, ai đạo diễn?

Anh chưa kịp trả lời, nàng đã buột miệng hỏi:

- Đạo diễn là sao?

- Chụp như vậy, phải có đạo diễn. Họ lên chương trình để bên tui thực hiện. 

- Là sao?

- Hiểu rồi, tôi làm đạo diễn!

Anh cắt ngang lời nàng, kéo hắn đi về một góc xa bàn chuyện. Họ nói gì đó, ra dấu múa tay múa chân… Chuyện có gì bí mật mà cũng lôi kéo cho xa, dư hơi.

Tuyệt vời! Xa xa, mặt trời đỏ hồng từ từ nhô khỏi lũy tre. Nàng đắm mình vào trong ống kính với những khung hình tuyệt đẹp. Hắn dẫn đầu đàn trâu chạy xuôi, chạy dọc. Bầy trâu đắm mình trong ánh ban mai. Cận, nàng lấy được viền nắng trên bờm lông những con trâu chạy một mình… Như bị ghiền, nàng vẫn thấy mình tập trung ghi hình của hắn. Trong ống kính, thế giới chỉ có hai người. Nàng để mặt trời trên vai hắn, treo lơ lửng trên đầu con trâu hắn cưởi. Hạ ống kính xuống, nàng ấn cả trâu và người nằm gọn trong cái mặt trời.   

Giải lao, anh đưa nàng một bịch suối lạnh. Cầm chai suối lạnh, tư dưng nàng nghĩ tới hắn: 

- Ê! Có uống nước suối không?

Hắn đi về phía nàng:

- Suối hả? Chai uống, chai không!

- Là sao?

- Chai nào mời thì uống.

Nàng đưa nguyên cái bịch cho hắn:

- À! Vậy thì uống đi, tôi mời!

- Mấy thằng trâu, đứa nào uống suối lạnh lại đây!

Hắn cầm bịch nước suối, vẫy tay gọi đồng bọn và phát từng đứa một. Bịch có năm chai, phát hết, hắn nhìn chai nước trên tay nàng, cười. Đúng là mấy thằng trâu… Nàng cười, quăng cái chai đang cầm về phía hắn. Nàng nhìn anh. Anh quay lưng đi ra xe. Ở đó, nước suối còn một thùng trong thùng đá.

Như trêu tức, hắn mở chai nước trước mặt nàng rồi tu một hơi òng ọc… hết chai.

- Suối lạnh, đã nghen!

- Mấy ngươi đã… còn người ta thì chết khát nè!

Hắn nhìn nàng, nhìn về hướng anh đang đi, nhún vai:

- Đời mà… có người hầu thì hành tí cho nó có hương vị.

Hắn nhìn máy ảnh trên tay nàng:

- Chụp nhiều không, có cho coi không?

- Biết coi không?

- Chuyện nhỏ!

- Sao biết?

- Cởi trâu cho mấy cha nhíp ảnh chụp hoài, biết!

- Biết thì coi đi!

Hắn sà xuống ngồi cạnh nàng, lột cái khăn trên đầu, lau tay rồi cầm cái máy. Ôi trời, hắn ngồi xuống, một mùi nồng nặc phả vào người, sộc vào mũi làm nàng choáng váng. Mùi đàn ông, mùi nắng, mùi sình, mùi cỏ… Nàng lịm đi mụ mị trong cái hương trường mà lần đầu tiên trong đời được ngửi. Nàng nghĩ mình sẽ đứng lên, di dời, bước đi tránh xa cái mùi đàn ông lạ lẩm này… Đó là nàng nghĩ. Thực tế, nàng thấy mình ngồi đó, len lén hít và thấy người lâng lâng, lơ lửng… Hắn ngắm nghía cái máy. 

- Nikon 400 f2.8, ống đẹp quá, bao nhiêu?

- Hai trăm sáu.

- Mới chơi ảnh phải không?

- Ừ hứ!

- Dân Sài Gòn?

- Ừ hứ!

Như bị thôi miên, hắn hỏi gì nàng cũng trả lời. Bọn chăn trâu bu sau lưng hắn, chỏ mắt vào màn hình lao xao.

- A há, sao toàn hình Lão Đại không vậy trời!

- A, bữa nay cậu nhà mình đóng vai chính.

- Im, coi cấm bình luận, chụp trâu không lẽ bỏ qua thằng cưỡi trâu, chuyện thường!

Hắn nạt, bọn phía sau im. Chúng không nói mà chuyển sang xầm xì rồi thúc nhau liếc nhìn nàng, cười rúc rích. Đưa máy cho hắn, nhìn hắn lướt hình, nàng thấy hối hận liền. Bọn chăn trâu bàn tán, nàng quê… Nghe hắn nạt, nàng khẳng định một điều, hắn biết… trong máy, nàng toàn chụp hình hắn. Liếc, mặt hắn lanh tanh tỉnh rụi, nàng cũng phớt theo.

- Về đây chụp len trâu, không chụp trâu thì chụp cái gì.

Hắn trả cái máy cho nàng:

- Cái này là chụp trâu chớ không có len.

- Sao mới gọi là len?

Hắn nhún vai:

- Tự tìm hiểu đi!

Anh đến, thấy bọn chăn trâu bu quanh nàng, la làng:  

- Mấy thằng trâu này… mùi kinh quá! Giải tán dùm cái coi!

Hắn đứng lên, bước gần anh hít hít cái mũi:

- Mùi hả? Chưa biết ai kinh hơn ai nghen!    

- Đùa! Mùi của người ta là mùi của Pháp, biết không?

- Pháp nhằm mẹ gì…

Hắn quơ tay một vòng tròn rồi chỉ tay vào người mình:

- Đây là mùi từ thiên nhiên, nguồn từ tạo hóa, thách biết, hi hi… Giải tán tụi bây!

Nàng bật cười. Hắn đối đáp nghe đã. Nàng biết anh xài A men Thierry Mugler for men, nước hoa Pháp, loại hàng độc lạ và khá nặng mùi. Trực tiếp nghe hai thằng đàn ông đấu nhau vì cái mùi, hài không chịu được. 

- Giải tán là sao, phải chạy vài vòng nữa chớ?

- Muốn chụp hả, chạy hai vòng nữa thôi! Ok!

Hắn kéo bọn chăn trâu đi. Lội xuống nước đi vài bước, hắn quay lại nhìn nàng:

- Đi với thằng chả… chắc cũng chịu đựng dữ hén?

Bọn chăn trâu lại nhìn nàng xì xào rồi nói khẽ gì đó. Hắn cười lớn:

- Ha ha… chỉ là gà đất chó kiểng thôi! Ha… ha…

Hổng biết bọn họ nói chuyện gì, nhưng khi nghe từ gà đất chó kiểng, nàng tự ái. Nàng có cảm giác hắn ám chỉ nàng. Còn anh, anh nghe và cái mặt xụ xuống, hầm hừ.

Sáng, anh chỉ đạo cho hắn chạy ngược, chạy xuôi theo ánh mặt trời. Lần này tự chạy, hắn cùng đồng bọn lùa trâu chạy ngang. Mỗi góc máy có vẻ đẹp riêng của nó, nhưng nàng thích góc này hơn. Mặt trời lên cao, bầy trâu băng từ lũy tre ra đồng, nước lấp loáng nắng, những dề cỏ dập dềnh… Cảnh đẹp chịu không nổi. 

Kết thúc, tưởng hắn sẽ đích thân tính tiền bạc với nhóm. Nhưng không, hắn thả người nằm dài trên lưng mặc con trâu đi rong. Nàng thu máy và lòng thấy tiếc tiếc. Xa xa, hắn gối hai tay dưới đầu, nằm ngửa phơi người trong nắng. Trời, cảnh yên ả thanh bình làm sao… Nàng lại lấy ống kính ra bắn tiếp.

Không biết nàng tìm đến con trâu hay con trâu tìm đến nàng. Khi đến gần, nàng nghe hắn hát, hát đúng cái bài mà nàng thích: Chỉ có ta trong cuộc đời của Trịnh Công Sơn:

                      Đời vẽ tôi tên mục đồng

Rồi vẽ thêm con ngựa hồng

Từ đó lên đường phiêu linh...

Giọng hắn ấm, ngọt, truyền cảm.

- Ê! Len trâu là sao?

Lười biếng đến độ chẳng thèm ngồi dậy, hắn chỉ nghiêng mắt nhìn nàng:

- Muốn biết lắm à?

- Hỏi câu bằng thừa!

Hắn bật dậy nhìn mây, nhìn trời một lúc rồi lại nằm dài như cũ. Hắn nói mà không nhìn nàng:

- Chiều trời đẹp, muốn biết len trâu, đúng 3 giờ chiều trở lại đây, chỗ cái chòi, tui tặng cho một bộ ảnh, bảo đảm đẹp. Nhớ, chỉ đi một mình.

Nàng nhìn cái chòi, nhìn ngược xuôi con đê và tưởng tượng ra khung cảnh lúc 3 giờ chiều…

- Làm sao tôi tin được mấy người?

- Tôi đâu bắt mấy người tin! Chăn trâu có cái giá của chăn trâu. Tin, đi thì biết, hổng tin… biến!

Nghe mà sôi gan. Chưa có thằng con trai nào dám ăn nói kiểu đó với nàng. Còn hắn, hắn… hắn nói mà chẳng quan tâm tới sắc diện của nàng. Con trâu theo đám cỏ ven đê, vừa ăn vừa mang hắn xa dần…

                     Đời vẽ tóc em thật dài

Rồi vẽ môi thơm nụ cười

Từ đó thiên hạ vui tươi  

Đời vẽ tim em lạ kỳ

Tình có trong em nhiều mùa

Từ đó thiên hạ quá ưu tư...

Nàng thấy mình đứng đó, mím môi nhìn theo hắn. Hắn và vùng đất này cho nàng quá nhiều cảm xúc. Chỉ một ngày, một đêm mà nàng tưởng dài một kiếp. Và cái kiếp đó tới đây là hết, chấm dứt: Mình không có duyên! Sức sống đang cuồn cuộn trong nàng tự dưng tuột dốc, một cái. Nàng như quả bóng hết hơi, rủ xuống mỏi mệt. Tự nhiên nàng thèm ngủ, thèm kinh khủng. Bước lên xe, nàng chỉ nói với Ngọc được câu: Tao quá mệt!, rồi thiếp đi.

*

Hắn đến. Cái chòi đông nghẹt người. Ngoài những khuôn mặt quen, hắn phát hiện có vài khuôn mặt lạ. Quen là Đào, lạ là Lan, Thủy, Quỳnh bạn gái thằng Phong, Tưng, Tửng. Anh em thì thằng Phong, Con Đào, thằng Tú, thằng Được một hộ. Thằng Tưng, thằng Tửng là một hộ, bọn nó anh em chú bác. Trong nhóm, thằng Phong lớn nhất, ra trường, làm khu công nghiệp Hùng Cá, khoe lương mười hai chai. Nhỏ nhất là thằng Được, lớp tám. Bọn còn lại, đều đại học. Đứa không sinh viên này thì cũng sinh viên nọ. Chúng giới thiệu, hắn chợt thấy mình già. Nói về xuất thân, hắn và bọn chúng khác nhau. Hắn dòng chủ cả, chúng, con cháu tá điền. Đất miền Tây có lệ, dân tá điền dù lớn tuổi, đầu có bạc nhưng khi xưng hô với con cái chủ cả là cô, cậu, xưng con. Cái lệ có từ xưa, thế hệ sau theo đó mà noi. Mẹ hắn là con dòng chủ, bọn chúng gọi hắn là cậu, là gọi theo lệ.         

Thuở thiếu thời, hắn mê vẽ, mê trâu, tối ngày cưỡi trên lưng trâu, tắm đồng, tắm sông, tắm ruộng. Lão Đại là con trâu đầu đàn của ngoại. Ngoại mất, mẹ giao cả trâu và đất cho nhà thằng Phong quản lý. Tuổi thơ của hắn gắn liền với bọn nhỏ, thân lắm. Tuy gọi cậu xưng con nhưng thương nhau như anh em ruột. Lúc hắn quen Hương, khoảng thời gian đó thật tuyệt. Lúc nào cũng có cuộc vui, khi thì lẫu mắm, đỗ bánh xèo, lúc nướng cá lóc, gà nướng lu… Lúc hắn điên, khùng khùng, bọn trẻ không tiếp xúc được, tới gần hắn đuổi. Bữa nay là ngày đầu tiên hắn chơi lại. Biết tin, đứa nào cũng mừng, xa cũng về. Đứa nào có bạn gái, đều dẫn về ra mắt cậu.         

Xưa, những cuộc vui tổ chức bên ngoài, hắn luôn là bếp trưởng. Làm tại nhà, hắn nhường cho mẹ, người mà bọn nhóc thường gọi bà, bà Hai. Mẹ hắn nấu ăn rất ngon. Khiếu ẩm thực, hắn thừa hưởng từ mẹ. Tiệc bữa nay, thằng Phong dành quyền. Nó phân công anh em thằng Tưng làm vịt, làm chuột. Con Đào xào nhưn bánh xèo. Nướng cá lóc là cu Được. Xay bột là nó. Thấy hắn tới, con Đào khoe:

- Cậu! Đào xào nhưn bánh xèo, bảo đảm cậu ăn ngon. Không ngon không lấy tiền!

Thằng Được vọt miệng:

- Cậu! Tiền bả lấy hết trơn rồi, còn đồng nào mà hổng ngon hổng lấy tiền.

- Biết làm không đó?

- Đào bảo đảm ngon! Hồi tối, Đào còn ghé hỏi bà lần nữa.

- Hên xui!

Thằng Được chõ miệng vào:

- Cậu cứ coi mình xui đi, chắc ăn!

Con Đào dứ dứ cái vá trên tay, hăm he:

- Im, mày tin không, cái vá ăn mày bây giờ!

Thằng Được cũng không vừa:

- Hỗn, gọi cậu là xưng con chớ hổng có đào này đào nọ.

Quê, con Đào xông tới. Thằng Được cười hì hì, nhảy cái rột xuống kinh, trốn. Biết, thằng Phong mím miệng cười khục khục. Bọn còn lại, đứa nào cũng nín khe, cúi gằm đầu, cười hì hì. Hắn nhìn con Đào, không biết vì quê hay vì lửa, cái mặt nó đỏ au, bẽn lẽn.

- Coi cái chảo, khét bây giờ!

Hắn bước ra phía sau chòi, nơi đó có một cái võng.

Con Đào bẽn lẽn, đó là lỗi của mẹ hắn. Mới đây, bà nói với hắn:

- Con à, gần ba mươi rồi, con phải cho mẹ đứa cháu để mẹ ẳm, mẹ bồng.

- Chuyện đó… coi mẹ có duyên hay không?

- Duyên là của con, cớ sao là của mẹ?

- Mẹ là Phật tử, mẹ quá hiểu từ duyên. Có duyên, có phần phước, mẹ sẽ có con, có cháu. Không duyên, mẹ chỉ có con thôi, hi… hi…

- Nói vậy là sao, bộ tính ở vậy luôn à?

- Con đang hài lòng với hiện tại, con không muốn xáo trộn.

- Phúc à! Xứ này mẹ chấm mỗi con Đào, con bé đó đẹp người, đẹp nết.

- Đẹp người, cái đó nhìn thấy bằng mắt. Đẹp nết, cái đó là hên xui…

- Mẹ là phụ nữ, mẹ từng trải, mẹ biết. Hồi đó, chỉ gặp con Hương lần đầu, mẹ nói nó chỉ là cái giếng cạn, con đâu tin… Con Đào thương con từ hồi nhỏ, con bé đó sẽ vì con mà sống.

- Con không cần người vì con mà sống! Con cần là ai đó làm con yêu thương, con hy sinh cả đời để sống vì họ.

- Phúc… Hổng lẽ giờ này con vẫn còn yêu con Hương?

- Muốn hoàn toàn quên đi một người mà mình yêu là một chuyện không dễ dàng. Nhưng đôi khi không quên, không có nghĩa là còn yêu. 

- Mẹ thấy con Đào…

Hắn ngắt ngang:

- Chuyện Đào tới đây dừng, mẹ đừng nói nữa, phiền!

- Mẹ…

- Mẹ thấy hiện tại con sống có hạnh phúc không?

- …

- Hiện tại con đang sống rất hạnh phúc, tâm thanh thản, an nhàn. Thích, con xách máy đi rong chụp chọe, thư giãn, tận hưởng. Thời gian còn lại, con dành cho sáng tác, cho vẽ. Con yêu cuộc sống hiện tại và không muốn phá vỡ nó. 

- Nhưng tuổi con ngày một lớn, rồi con sẽ già.

- Sống ai mà không chết… Biết đâu sau này con sẽ là một họa sư?

- Trời! Đừng nói mấy năm nay đi chùa, vẽ Phật, họa niết bàn rồi phát tâm muốn tu.

Hắn cười ha ha:

- Con mà tu hành gì, sân si bà cố! Còn mê cái đẹp, mê rượu, thích ăn ngon, Phật nào chứa? Họa sư có nghĩa là bậc thầy trong ngành vẽ. Và biết đâu họa sư cũng có nghĩa ông sư biết vẽ, ha… ha…

- Con á, con không có nói gỡ, mẹ hổng thích!

Hắn nhún vai cười.

*

Giấc ngủ ngắn nhưng thật sâu. Tỉnh, nàng thấy mình khỏe. Tắm, ăn cơm trưa, nghỉ ngơi và chờ tiệc chiều. Chiều, người bà con của anh đỗ bánh xèo. Sau tiệc và nhóm nàng về Sài Gòn, hết. Cũng loáng thoáng một tí bâng quơ, nhưng nàng xua, đã kết luận vùng đất không duyên, không bận tâm. Rồi nàng quên nhanh, vui đùa với Ngọc, với anh. Nàng quên hết. 

Yên là do lý trí nàng nàng tưởng, còn động là chuyện của con tim. Khi thời gian tiến gần con số 3, nàng thấy cả người bồn chồn, như bị một tiếng gọi huyền bí nào đó thôi thúc. Nàng muốn đi, muốn kiểm nghiệm lời hứa của một thằng chăn trâu. Nàng buộc anh phải kiếm cho nàng bằng được một chiếc honda để nàng đi. Lý do, nàng chạy loay quanh ngắm và chụp ảnh. Anh đòi chở, nàng không cho, Ngọc đòi theo, nàng kiên quyết từ chối. Họ lằng nhằng ngăn, nàng phát quạu… Nhìn thấy thời gian càng lúc càng cận, nàng nổi giận, thấy anh và Ngọc đều đáng ghét.

- Mấy người muốn cái gì, tôi lớn rồi, tôi có phải con nít đâu mà sợ lạc. Muốn tự do một chút cũng hổng được à? Muốn không,… tôi về Sài Gòn liền bây giờ đó!

Anh xoa dịu:

- Thôi thôi, em đi đi… Nhớ về sớm! Hổng nhớ đường thì điện, ok.

Ngọc thì điểm mặt nàng:

- Mày á… mày bị cái gì á, hiểu hổng nỗi.

- Bị gì là mày á… Nói nữa là nghỉ chơi đó!

Thoát được họ, nàng mừng rơn, lên xe đi liền. Mới, còn chạy chậm chậm. Khuất là phi vù vù tới điểm hẹn. Giữa đồng, cái chòi hiện ra. Theo tưởng tượng, nghĩ hắn chờ nàng với bầy trâu. Đằng này, cái chòi lạnh tanh, xung quanh chẳng thấy con trâu nào. Tới gần, nàng mới phát hiện, trước chòi lố nhố năm sáu chiếc honda, trong chòi vang ra tiếng cười huyên náo. Tự nhiên nàng thở cái phào. Tiếng cười đùa từ cái chòi đã xua tan nỗi lo sợ âm thầm trong nàng.   

- Xin hỏi, Lão Đại có ở đây không ạ?

Trong chòi, khoảng chục thanh niên nam nữ đang cười đùa. Nghe hỏi, họ im bặt, tất cả quay nhìn nàng. Lướt mắt, nàng không nhìn thấy hắn. Thằng Được vọt miệng:

- Lão Đại ở ngoài đồng á.

Nghe thằng Được trả lời, không hẹn, cả bọn cười cái rần. Phong tinh ý lên tiếng:

- À!… Cậu ơi, có người tìm cậu kìa!

Hắn nằm võng, nàng không thấy hắn, nhưng hắn thấy nàng, thấy từ xa, từ lúc nàng xuất hiện trên đầu con đê.

- Chào quý cô, ít ra quý cô cũng có can đảm tin lời của một thằng chăn trâu.

Nàng nhìn hắn thách thức:

- Ừ hứ, rồi sao, trâu đâu?

- Ở đâu có thằng chăn trâu, ở đó có trâu, lo gì!

Hắn nhìn mặt trời rồi quay nhìn nàng bằng ánh mắt toan tính:

- Chiều nay là một buổi chiều đẹp. Tui bảo đảm quý cô sẽ có một bộ ảnh len trâu tuyệt vời… Nhưng đời không có gì miễn phí, tui có một điều kiện…

Tự nhiên nàng thấy mình khùng. Nàng hối hận khi cãi lời anh và chạy ra tận đây… Tiền chớ gì, chuyện nhỏ! Lỗi là của nàng, nàng đánh giá cao người ta. Nàng nhếch môi, thách thức:

- Điều kiện gì, nói!

Biết nàng khinh, nhưng hắn thản nhiên:

- Quý cô thấy đó, bọn họ đang làm bánh xèo, nướng cá, nướng chuột… Điều kiện, quý cô phải ăn ít nhất hai cái bánh xèo mới được về.

Chúa ơi! Hắn luôn làm nàng ngạc nhiên… Tự nhiên, nàng bật cười, cười thật sảng khoái. Mình tệ, chưa chi đã nghĩ xấu người ta.

- Ok! Điều kiện được chấp nhận.

Hắn lệnh:

- Thằng Tú, thằng Tưng, hai đứa bây đi lùa trâu, lùa về Bàu Ông Hổ, đi liền. Bắt mấy con to, chừng 20 chục con thôi! 

Thằng Phong giơ tay:

- Có phần con không cậu?

- Mày ở nhà lo chỉ huy mấy đứa làm bánh xèo, lo mồi.

Đang nướng cá, thằng Được cũng giơ tay:

- Cậu quên con hả?

- Mày vai chính, sao quên… Bỏ cá đó cho thằng Tửng nướng, ra tát nước cái xuồng.

- Yes xơ!

*

Hắn nói đúng, chiều nay trời thật đẹp. Gió nhẹ, cánh đồng nước lao xao, sóng nhấp nhô, nắng chiều lấp loáng, chiếc xuồng lướt im. Nàng có cảm giác mình mơ. Cảm xúc trong nàng hình như có vấn đề, từ lúc đặt chân tới vùng đất này, lúc nào nàng cũng có cảm giác mơ.

Thằng nhóc chống xuồng thật chuyên nghiệp. Xuồng lướt lướt đi không chao không lắc. Hắn cũng lịch sự. Từ lúc xuống xuồng, hắn lặng thinh không nói. Lúc đi, hắn chỉ nàng ngồi trước mũi xuồng:

- Đồng nước buổi chiều rất đẹp, ngồi chỗ đó tha hồ mà sáng tác.

Tới cái Bàu Ông Hổ, không thấy hổ mà chỉ thấy bông súng. Bông súng trắng bạt ngàn. Chúa ơi! Nước thì trong xanh. Những nơi không có bông súng, rong đuôi chồn đủ màu lắc lư trong nước, đẹp rụng rời. Con tim nàng luôn luôn đúng. Nếu nghe theo lý trí, nàng đã bõ lỡ một buổi chiều mơ. Chiếc xuồng lướt qua những bãi rong, xuyên qua rừng bông súng rồi dừng lại. Xa xa, đàn trâu đang tới. Hắn nhìn nàng: 

- Len trâu là đưa trâu từ vùng ngập lụt sâu đến nơi cao ráo để trâu có chỗ ở, chỗ ăn. Những năm lũ lớn, đồng ngập sâu như biển, người nuôi trâu buộc phải len.

Nàng nhìn bầy trâu đi trên đồng, nước chỉ ngập tới bụng. Hiểu ý, hắn nhìn nàng giải thích:

- Năm nay nước nhỏ, đồng cạn, trâu không cần len. Để quý cô có một bộ ảnh, chơi chiêu thôi. 

- Ừ hứ!

Hắn cắm cây sào xuống nước, rút lên. Dấu ướt báo nước sâu chừng ba mét.

- Hiện tại mình đang ở giữa một con rạch, rạch Voi… Đồng thì cạn chớ rạch thì sâu. 

- Ừ hứ!

- Mình lùa trâu xuống rạch rồi len nó về phía cây gáo Tàn Dù đằng kia, ok.

Bầy trâu được lùa xuống rạch. Nước sâu, chúng chỉ còn nổi lên cái đầu và cặp sừng chao chao trong nước. Chúng bơi thành bầy trông thật sướng con mắt. Hắn chống xuống cho nàng chụp hình. Hắn cũng chuyên nghiệp, chiếc xuống cũng lướt nhẹ không chao, không lắc. Không, hắn chuyên nghiệp hơn, không cần nói, không ra dấu, hắn biết nàng thích gì, muốn gì… Có lẽ, hắn từng chống xuống cho những tay nhiếp ảnh chuyên nghiệp, biết góc ảnh đẹp. Hắn cho nàng nhiều góc độ. Ngược nắng, nàng lấy cảnh đàn trâu bơi về hướng mặt trời. Xuôi nắng, đàn trâu hiện ra dập dềnh trong sóng nước. Nắng chiều rải xuống, đàn trâu bơi trong thảm vàng lấp loáng. Giờ thì nàng hiểu vì sao hắn gọi thằng Được là vai chính. Thằng Được nhỏ con. Nó ngồi trên cổ con trâu đầu đàn, nó biết diễn. Mà nó diễn thiệt dễ thương. Hình ảnh của nó chiếm dung lượng trong thẻ nhớ của nàng không ít. Hên, nàng xài thẻ 256G, tha hồ bắn. 

Trong đời nàng chưa có buổi chiều nào đẹp như buổi chiều này. Nắng đẹp, trâu đẹp và… người cũng đẹp. Đi với hắn, nàng thấy thật thoải mái, tâm tư thoải mái, cơ thể cũng thoải mái, lòng đầy ắp niềm vui. Đi với một người như vậy, nàng có thể đi cùng trời cuối đất. Tiếc, hắn chỉ là thằng chăn trâu. Có lẽ do cả một chiều làm việc cật lực, vui, hưng phấn, nàng ăn liền một mạch hai cái bánh xèo mà còn thấy thèm. Bánh thiệt ngon, ngon từ nhưn cho đến da. Rau cũng ngon, những cọng rau lạ, vị chát thật hợp khẩu vị.

Nàng chìa cái đĩa không về phía hắn:

- Minh ăn hết hai cái rồi, muốn ăn hai cái nữa, được không?

Nghe nàng tuyên bố ăn hết hai cái, ai cũng nhìn. Nhưng nàng mặc kệ, nàng đang thèm ăn.

- Bánh ngon phải không?

- Quá ngon! Minh chưa bao giờ ăn nhiều như vậy! Nhưn bánh ngon, độc, lạ.

- Thằng Phong lên tay rồi nghen, có người khen.

Con Đào chẩu môi xí phần:

- Cậu, trong đó có phần của Đào nữa. Nhưn bánh xèo là Đào làm đó nghen!

Từ lúc vào tiệc, nàng để ý cô gái tên Đào. Cô ta đẹp, dễ mến. Nàng để ý Đào vì Đào để ý nàng. Hình như cô ta có gì gì đó với hắn. Còn hắn, từ lúc mời nhập tiệc, sau lời giới thiệu, chỉ ghim đầu ăn. Trong mắt hắn chỉ có bánh xèo. Đào hay nàng đều không tồn tại. Giờ thì nàng đã biết, thằng Tưng, thằng Tửng, tên trong khai sinh rất đẹp. Họ là anh em, Hữu Thiện, Hữu Nghĩa. Biết nguyên cái nhóm đang ngồi trong tiệc, bọn họ đều là sinh viên, có học… Còn hắn, hắn chẳng nói gì về mình, chắc dốt. Kệ! Hắn dốt hay biết chữ liên can gì tới mình, quan tâm chi cho mệt.

Ăn xong, trời xẩm tối, hắn đưa nàng một đoạn. Không biết hôm nay là ngày gì, chiều đẹp và đêm cũng đẹp. Trời xẩm xẩm thì trăng đã treo trên ngọn tre như cái đèn lồng, rất thơ mộng. Đến một ngã ba, hắn dừng xe:

- Đi thẳng theo con đường này, qua hai cây cầu là tới cái nơi mà quý cô cần về.

Nàng nhìn nhìn cái ngã ba nó quen quen.     

- Hình như cái đường này đi ra chùa Đa?

- Chính xác!

Tự nhiên nàng phân vân, ngập ngừng… Lần đầu tiên, nàng xin số một chàng trai:

- Anh có thể cho Minh số điện thoại được không?

- Để làm gì?

Và chưa bao giờ nàng thấy ghét mình đến như vậy. Minh ơi là Minh!

- Có dịp, Minh điện nhờ anh tổ chức một buổi len trâu, giới thiệu với bạn bè. Sơ - ri ảnh chiều nay đẹp quá, Minh muốn chia sẻ!

Hắn nhìn nàng, mắt lạnh tanh:

- Duyên chỉ dành cho người ngộ. Sống mà cái gì cũng chia sẻ thì cuộc đời cần đếch gì chữ duyên!

Nói xong, hắn quay lưng đi cái một. Nàng thấy tự ái. Lời hắn như tát vào mặt của nàng, thô lỗ, thất học. Tức sôi máu, nhưng nàng vẫn nghe giọng mình mềm, lịch sự:

- Minh cảm ơn anh, cảm ơn vì…

Chẳng nhìn nàng, chẳng thèm nghe hết câu, hắn phẩy tay:

- Quên đi!

Hắn rồ ga đi cái một. Nàng nhìn theo, hầm hừ. Trong đời nàng, chưa thấy thằng con trai nào mất dạy như hắn.

- Đúng là… dân chăn trâu có khác!     

*

  Láng giềng, dù hên hay xui, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau, có ai chọn được láng giềng đâu, nếu được chọn lựa hắn vĩnh viễn không bao giờ chọn Lão Ba. Nhưng hiện tại Lão Ba vẫn là láng giềng của hắn, một láng giềng bự, một kẻ luôn quấy nhiễu.  

  Lão Ba là lão già cực kỳ tham lam, lão chẳng những tham mà còn thâm nữa. Người ta nói dân vùng trủng, dân sống bằng nghề lúa nước thường khí tiết, vô tư, hào sảng, lão cũng là người sinh ra vùng trủng, cũng làm lúa nước, nhưng lão lại tham lam ti tiện. Giống, lão làm nông và giàu lên bằng nghề nông. Khác, dân làm nông bán nông sản làm giàu, lão bán vật tư nông nghiệp, cho vay nặng lãi, thâu tóm đất của dân nghèo, thành đại gia. Xưa, lúc chưa lộ mặt, nhiều người nói lão tốt, kẹt tiền, kẹt phân bón, thuốc trừa sâu, lão bao hết, tính lãi “nhẹ”…nhưng không ai để ý, lão chỉ “bao dung” với người có đất, có của. Giờ lộ mặt cả vùng tá hỏa khi biết khối người đã mất đất vào tay lão. Với cách tính lãi “lũy tuyến”, lãi “nhẹ” theo cách gọi của lão, dân nghèo chỉ biết ngậm ngùi giao của.  

  Chuyện lão thế thần, thâm độc, cướp đất ai đó, hắn không quan tâm, đó là chuyện của lão. Bực, lão quấy nhiễu hắn, muốn thôn tính hắn, muốn biến cây đa của hắn thành Bonsai trong sân nhà lão. Muốn là chuyện của lão, bực là lão lu loa tuyên bố cây đa đó vốn là của lão, của dòng họ nhà lão, vì thời cuộc bị dòng họ nhà hắn “khai” và đứng tên tới bây giờ. Tham người ta thường bị khùng, khùng và quên cả tổ tiên. Nói cho cùng hắn và lão là cùng một tổ tiên, trải nhiều đời mà phân chia thành nhiều chi,  nhiều nhánh. Ông ngoại hắn là cháu chắt thuộc dòng chính, người thừa kế cây đa, thừa kế đất cát và cúng bái tổ tông ông bà.  

  Xưa, theo lời kể vùng đất mà hắn đang sinh sống chưa có, nơi này là một cái đầm lúc ẩn, lúc hiện, mùa khô nước cạn, cái Đầm hiện, mùa nước đỗ cái Đầm chìm. Cụ tổ của hắn, Cụ Đầm, người đầu tiên khai phá vùng đất này. Tên thật của cụ không ai biết, cụ sống bên cái đầm nên Đầm trở thành tên truyền đời của cụ. Cũng theo lời kể, hồi đó, sông Cái chỗ này rộng lắm, bờ cách bờ chục cây, gió lớn, sóng to, thuyền bè đi lại hay bị chìm. Và từng có một chiếc tàu tây thật lớn bị vướng vào bờ cái Đầm ngay đầu mùa lũ, chìm. Và cái tàu tây đó là nguyên nhân tạo nên vùng đất này, xác tàu to chắn lòng sông làm thay đổi dòng chảy, phù sa bồi đấp, cái Đầm nổi thành Cồn, cụ Đầm trồng cây đa đánh dấu, xí phần. Qua nhiều trào, nhiều thề hệ, cái Cồn nổi lên líp mất cái Đầm lấn ra cả dòng sông, con cháu Cụ Đầm nối tiếp nhau sở hữu cái Cồn tới bây giờ.           

  Mẹ kể, máu tham của lão là do di truyền, cái dòng bên đó từ ông đến cháu, họ truyền thừa, lúc nào họ cũng muốn nuốt trọn cái Cồn. Lúc mẹ còn trẻ, lão đã từng tính kế. Biết ngoại không có con trai kế thừa, lão muốn thống nhất cái Cồn bằng một cuộc hôn nhân, và ngoại từng xiêu lòng. Lúc đó mẹ mới sinh viên năm nhứt, học Sài Gòn, ngoại kêu mẹ về.  

  - Bây tính sao, bên nhà thằng Ba nhờ người đánh tiếng…tao thấy cũng được.

  - Tía nghĩ sao mà nói được? Nhà bên đó với bên mình là một họ, là bà con, phân vai vế ổng phải kêu con bằng cô lớn.

  - Cũng qua ba bốn đời rồi, hỏng sao… tao thấy nó thương bây thiệt tình.

  - Sao tía biết?

  - Nó nói thương bây từ hồi nhỏ, chờ bây lớn mới dám đánh tiếng. Năm nay nó ba mươi rồi, lớn hơn bây mười một tuổi, chờ bây tới nửa đời người, tính ra nó cũng thâm tình đó chớ.

  - Thằng cha đó thâm độc thì có chớ thâm tình, còn lâu. Ổng thương gì con, ổng thương là thương cái gia tài của tía đó, tía biết không?

  - Nó hứa nếu có con trai, đứa đầu tiên sẽ là cháu thừa kế gia tài của tía, lo hương khói tổ tiên.

  - Tía sai, con là con nó, thuộc dòng chi khác, hỏng phải chi họ nhà mình.

  - Nhưng ít ra nó là cháu mang họ tía, là con của con.

  - Cháu mang họ của tía hả? Dễ ợt, chuyện đó con lo. Còn chuyện lão Ba, quên đi, thằng cha tham lam đó…cho xách dép cũng hỏng thèm….

  Sau đó mẹ tốt nghiệp làm việc ở Sài Gòn. Khi ngoại yếu, mẹ tự mang bầu sinh ra hắn.

                               Không chồng mà chửa mới ngoan

                          Có chồng mà chửa thế gian chuyện thường.

  Cái “ngoan” đó của mẹ nổi tiếng cả vùng, làm ngoại suy sụp. Cảnh nhưng mẹ, người ta lén lén lút lút khi về quê, còn mẹ thì ngẩng cao đầu. Mẹ trình cho ngoại kết quả siêu âm thai, giấy chứng nhận thụ tinh nhận tạo từ một bệnh viện nổi tiếng.

  - Nó là con trai, con của con, cháu của tía, nó mới là đứa cháu đích thực của tía, mang họ của tía, là người thừa kế hương khói tổ tiên chi họ nhà mình.

  Trước hi sinh của mẹ, ngoại khóc. 

  Lần thứ hai, lão tiếp tục tính kế với me. Lúc ngoại khỏe, ngoại ở quê một mình, mẹ làm việc ở Sài Gòn, cuối tháng, mẹ con mới về quê thăm ngoại. Một lần ngoại tai biến, hôn mê sâu, lão là láng giềng, đưa ngoại đi viện. Cơn hôn mê của ngoại kéo dài gần nửa năm, mẹ chống chọi với tử thần, dành giựt người từ tay “đầu trâu, mặt ngựa”, đào thoát khỏi Quỷ môn quan. Lúc ngoại vẫn còn hôn mê, lão hiện ra, lão mới chính là thứ đầu trâu mặt ngựa thứ thiệt. Lão xìa ra một hợp đồng mua bán.        

  - Cô hai à, mấy năm nay ông bán hết đất cát nhà cửa cho tui, giấy tờ ông giao rồi, ký nhận tiền, ký hợp đồng, giờ chỉ còn chữ ký của cô.

  Mẹ nghi ngờ??? Lão là láng giềng, biết ngoại ở một mình, lão trộm giấy tờ, mạo chữ ký!!!

  - Ủa, hồi nào không nghe tía nói, tía tôi đâu có thiếu tiền mà bán nhà, bán đất.

  - Cô hai à, cái nhà mà ông mua cho cô ở Sài Gòn, đó là từ tiền bán đất.

  Mẹ nghi là trúng. Cái nhà ở Sài Gòn là mẹ tự tạo…lão gian mà không ngoan, lão im mẹ còn bán tín bán nghi, lão nói, cái gian hiện lồ lộ. Mẹ chỉ mặt lão.

  - Mày tham, mày trộm giấy tờ của ông, giả chữ ký của ông, muốn gạt tao hả? Mày lấy cái gì của ông thì lo mà trả lại, bằng không…là không yên với cô hai đâu.

  Lão cười ha ha khoái trá.

  - Ừ, cứ cho là tao trộm đó, tao ký giả đó, mẹ con nhà mày làm gì được tao. Tao thách mẹ con mày kiện, kiện đi để biết tao là ai, quen lớn tới cở nào. Biết điều một chút, tao cho lại cái nhà để thờ, thẻo đất để chôn …còn nói với tao bằng cái giọng mẹ, cô hai…tao tống hết ra đường.

  - Tao nói đâu sai, tía tôi lầm mày, chớ tao thì không. 

  Lão gào lên.

  - Lầm là mày á…đúng ra mày là vợ tao, là chủ nhân của vùng đất này. Chảnh hả, chê tao không đáng xách dép hả….giờ chống mắt coi, cuối cùng cái Cồn này là của tao…như mày, chịu làm bé đi… tao cho lại phần đất tông đường, ha ha…

  Mẹ phẩy tay.

  - Biến, mày nói nhiều làm cái lỗ tai tao bị dơ…mai mốt xách giấy tờ qua trả cô hai là phải khóc nghen, hỏng khóc cô hai không có nhận đâu.

  Lão cười ha ha…tưởng mẹ nói nhảm.

  Ba ngày sau lão đem giấy tờ qua trả, vừa trả vừa khóc, khóc thảm thiết.

  - Cô hai ơi cô hai, cô hai ác chi ác dữ vậy, tui chỉ nói chơi thôi mà, ông yếu, tui cất dùm giấy tờ cho ông, thiệt tình…cái này là làm ơn mắc oán.

  - Thiệt hông, thiệt là làm ơn mắc oán hông, có muốn tao làm cho ra lẽ hông?

  - Thôi mà, tui nói sai, tui xin lỗi, xin cô hai nhận lại giấy tờ và bỏ qua cho …mình trong một tộc, lại là láng giềng, lẽ nào cô hai không thương?

  - ……………………..

  - Giờ tui mới biết, cô hai cũng ghê gớm nghen!

  - ………………………

  Khi xuống nước, lão mềm oặt như lươn, trơn tuột. Tỉnh, biết chuyện, ngoại lắc đầu ngán ngẫm.

  - Cái thằng tệ đến thế là cùng...phải chi đi được tao cũng bán chỗ này mà đi, cái thứ láng giềng như nó, xấu không còn từ diễn tả; ngặt nỗi tổ tiên ông bà mấy đời nằm ở đây, đi đâu…

  Sau cơn bạo bệnh, ngoại yếu, mẹ bỏ hết công việc Sài Gòn về quê sống tới giờ…cả đời mẹ sống là vì ngoại, sau ngoại là hắn. Chuyện lão bù lu bù loa đem giấy tờ qua đưa mẹ là một bí mật, lúc còn sống ngoại hỏi, lớn lên biết chuyện hắn cũng hỏi, mẹ chỉ cười: “Mẹ có người quen”. Người quen đó là ai, đó cũng là một bí mật.

*

  Tối nay lão bước qua nhà tìm hắn.

  - Cậu có muốn nhiều tiền không?

  - Nhiều tiền để làm gì?

  - Cậu khéo nói chơi, tiền ai mà không ham nhiều, càng nhiều càng tốt.

  - Vậy ông tìm lộn người, tui không ham tiền, miễn bàn.

  - Cậu lạ nghen, tiền đưa đến tận tay mà không ham.

  - Miếng ăn miễn phí chỉ có cái trong bẫy chuột.

  - Nhưng tui đâu phải là cái bẫy chuột.

  - Khi thanh minh, ông đã tự khẳng định mình là cái bẫy chuột rồi, tự hiểu đi.

  Phần ăn của Ngoại, hắn đứng tên mười mẫu đất Cồn, phần đất đó là con lạch cạn, nằm giữa đất liền và Cồn. Đất chỉ trồng trọt được một mùa, nước đổ, đất ngập thành sông. Ngoại kể hồi xưa bên dòng chính, đất ông cố hơn nửa cái Cồn, các chi khác là phần còn lại. Trào Pháp, chi nhà lão có người làm tới quan Phủ, ỷ quyền thế cướp hết phần màu mở. Cụ Cố chỉ giữ được phần đất hương hỏa và cái lạch cạn. Tới đời của Ngoại, người tậu được trên mười mẫu ruộng và gầy dựng được bầy trâu. Cách đây năm năm, lão từng hỏi thuê cái lạch cạn, hắn từng trả lời không.          

  Năm năm trước lão mở công ty “Cạp đất”. “Cạp đất” là dân họ giễu, chớ tên thật là Công Ty TNHH MTV Hồng Loan, chuyên đào xúc và san lấp. Nói tiếng công ty chớ lão tậu có hai máy cuốc, lái cuốc là hai thằng con, thằng Hồng con ruột, thằng Văn con rể, chồng con Loan. Xưa, nghèo “cạp đất” mà ăn, nay lão “cạp đất” làm giàu. Lão mở công ty nhưng không thèm cạp đất ai, lão chỉ cạp đất nhà lão, đào đất thành vèo cho những đại gia cá tra thuê. Năm năm lão băm nát cái Cồn, phân lô đào hầm chia Cồn ra thành những ô bàn cờ, và thu tiền tỷ từ những ô bàn cờ đó.  

  - Cái lạch đó cậu cho người ta thuê một năm có bảy chục, tôi thuê ba trăm, vậy mà cậu hỏng chịu, hiểu hỏng nỗi cậu luôn.

  - Có gì khó hiểu, người ta thuê là giữ nguyên hiện trạng, ông thuê là đào bới, vậy thôi.

  - Nếu được, tui thuê mười năm, trả liền 3 tỷ, hết hợp đồng, san lấp trả lại hiện trạng ban đầu, ok.

  - Đất đào bới kiểu đó, dù có san lắp đất cũng đã mất đi cái hồn, hỏng ham.

  - Cậu nói chuyện như thằng khùng.

  - Ủa, xứ này ai mà không biết tui khùng, miễn bàn.

  Lão tức tối hầm hừ một lúc rồi bỏ về. Hắn gọi vói theo.

  - Ê!

  Lão quay lại cái rột.

  - Sao, đổi ý rồi phải không?

  - Không, tôi chỉ hỏi ông một câu, ông tính quá, tiền nhiều quá, chết mang theo được không?

  Lão nhìn hắn, đôi mắt rực lên, uất ức rồi lặng lẽ quay lưng. Lão vừa đi thì chú tiểu bên Chùa Đa tìm, Sư Mộc, Sư trụ trì Chùa Đa gọi. Hắn đến, tại hậu liêu, Sư Mộc đàm đạo cùng ông Sư già. Sư Mộc giới thiệu.

  - Sư Ngộ, trụ trì một Chùa trên Thất Sơn, sư lặn lội tìm đến đây là muốn nhờ con vẽ một bức bích họa.

  Sư Ngộ nhìn hắn.

  - Sư đã viếng qua năm kiểng chùa, những kiểng chùa mà con vẽ bích họa, tranh con vẽ có thần. Hôm nay sư đến đây gặp con, hi vọng Sư với con có cơ duyên. 

  Những bức bích họa Chùa Đa lan truyền, nhiều Sư đến tìm. Vì vẽ không lấy tiền, nên hắn chỉ vẽ cho những vị Sư mà hắn thích, có “cơ duyên”. Hắn không phân biệt chùa giàu nghèo, nhưng nhận rất nhanh cái thật, cái tâm ở người đối diện. Trong mắt hắn, Sư Ngộ hiện ra trong veo, thanh thoát.  

  - Sư muốn vẽ tranh gì?

  Sư lấy ra một cuộn giấy củ, xỉn màu. Mở ra đó là một bức tranh hư, lem luốc.

  - Bức tranh này tên là diện bích, Sư muốn con tái hiện nó lại trên tường.

  - Con muốn nghe Sư tóm lượt về tích của tranh.

  Sư Ngộ kể, hắn lắng nghe. Lời sư chậm nhưng âm vang trong hắn, một không gian lạ mở ra, một hình hài mơ mơ hồ hồ ần hiện. Trong lúc hắn lặng đi, chìm sâu, hai vị Sư ngồi chờ.

  - Con muốn đọc mọi tư liệu về ông Tổ Thiền Bồ Đề Đạt Ma, Sư có không?

  Hai ông Sư nhìn nhau mỉm cười rồi nhìn hắn gật đầu.

*

  Nàng hài lòng, chuyến đi Đồng Tháp cho nàng nhiều cảm xúc lạ, và hài lòng nhứt là nàng có một bộ ảnh đẹp, vừa ý. Mỗi lần show hình lên máy, lướt qua bầy trâu ngập trong nắng vàng, nàng thấy vui. Vui nhứt là nàng nhìn thấy hắn, hình hắn tràn ngập trong máy của nàng. Hắn là một ẩn số buột nàng phải suy nghĩ.

  Chiều hôm đó, trước một hoàng hôn tuyệt đẹp, nàng ước ao có người biết, chụp dùm nàng vài tấm. Đọc được suy nghĩ của nàng, hắn đề nghị.

  - Quý cô có muốn ghi vài tấm hình không, đưa máy tui chụp cho.

  - Biết chụp không?

  - Chống xuồng cho mấy ông nhíp ảnh gia, chụp dùm cho mấy ổng hoài.

  Nàng đưa máy, hắn chụp cho nàng một loạt ảnh. Hắn cũng làm ra vẻ lắm, bắt nàng nghiêng tới nghiêng lui, diễn. Muốn diễn thì nàng diễn chớ trong thâm tâm nàng không hi vọng gì. Y chang, về tới nhà hình nào xem cũng được, hình hắn chụp là không xem được. Nàng chụp đuôi JPG, chép máy tính hình hiện lên liền. Hắn chỉnh bậy, hình có đuôi NEF lạ quắc, mở không lên. Định xóa, nhưng nàng tiếc, hắn chụp trên 200 tấm, biết đâu có hình đẹp. Điện Sanny, ông cậu, Sanny nói đuôi Raw, xử lý được. Tối, Sanny điện.    

  - Con rảnh không? Chạy qua liền.

  - Có chi không cậu?

  - Qua đãi tao nhậu, tao trả hình, không thì nằm mơ đi

  - Hình đẹp hả cậu?

  - Tuyệt vời ông mặt trời.

  Hình đẹp thiệt, đẹp ngỡ ngàng. Hình trên 200 tấm, tấm nào cũng đẹp.

  - Đừng nói hình là do cậu photoshop nghen.

  - Điên à, tao đâu có rảnh. Tại hình đủ nắng, đủ sáng, mẫu đủ đẹp, tự nó lung linh thôi. Con nói hình này là do một thằng gà mờ nào đó chụp.

  - Dạ!

  - Con mới là con gà mờ, ảnh Raw mà chụp lên như JPG không cần cân chỉnh, tay này là chuyên nghiệp đó, cở như con là phải xách dép chạy theo. 

  - Xí!

  Ảnh đẹp, sướng con mắt, lâng lâng cái bụng, nàng bắt cậu khao. Chẳng những khao mà còn bị nàng khảo, những thắc mắc về ảnh, cậu giải thích tận tường. Nghe cậu phân tích, kết hợp với những chi tiết về hắn, nàng gật gù: “ Cái Lão Đại này cũng là một tay thú vị nghen”. Hỏng hiểu, mỗi khi nghĩ tới hắn tự nhiên cái miệng nàng cứ tự cười, lòng rộn ràng vui.

  Sau chuyến đi ai cũng nàng thay đổi, anh nói nàng lạnh nhạt thờ ơ, còn Ngọc nhận xét.

  - Mày lạ lắm…nhìn mày giống giống như yêu.

  Nàng cười ôm Ngọc.

  - Đúng zồi….tao yêu mày mà.

  - Điên…đừng nói mày yêu cái thằng chăn trâu đó nghen.

  - Mày có nghĩ tao là một con điên không?

  - Ai biết! Chơi với bà từ nhỏ tôi biết, bà hỏng có điên, nhưng trong máu của bà thì có…bà nổi cơn, trời cản. 

  Nghe câu đúng ý, nàng cười ha ha.

*

  Ba tháng sau, nàng đi Đồng Tháp, đi một mình. Nàng tự nhủ lòng, nàng đi Đồng Tháp là vì mê tranh, mê những bức bích họa Chùa Đa mà lần trước nàng chưa xem hết. Đi xe nhà, sáng sớm nàng đã đến Chùa Đa, nàng muốn đón bình minh trên Sông Tiền. Có lẽ ban ngày, bức họa “Long Tranh Hổ Đấu” vẫn còn sắc nét, nhưng độ “linh” không còn, chỉ có đôi mắt còn Rồng linh hoạt, ánh mắt nó sáng lên như chào đón, như biết thế nào nàng cũng quay lại. Ánh mắt nó nhìn thấu tâm tư, làm nàng mắt cở. Góc tranh ghi Tiểu Mộc, một cái tên lạ mà nàng chưa từng nghe trong giới họa thuật. Đi hết chùa, chỗ nào cũng có tranh của Tiểu Mộc và tranh Tiểu Mộc, tranh nào cũng xuất thần. Tiểu Mộc, không lẽ người vẽ là một vị sư. Hỏi Tiểu Mộc, cả Chùa không ai biết, họ nói Sư Trụ trì là Sư Mộc. Tìm Sư Mộc, Sư đã hành hương.

Nàng tự hứa với lòng, viếng Chùa, thắp hương, xem xong những bức bích họa, về liền. Thắp ba lần hương, đảo qua đảo lại trong Chùa không biết bao nhiêu lần, nàng thấy mình vẫn chưa về. “Chim trời cá nước” đừng mong một sự tình cờ, duyên là từ chỉ có trong tiểu thuyết. Nàng bước lên xe về mà lòng vẫn còn điều gì đó không cam. Sau một hồi đắn đo, nàng quyết định bảo tài xế chạy vào con đường đồng, con đường cách đây ba tháng hai bên là đồng nước mênh mông, nay là đồng xanh bát ngát.

  Xe dừng trước cái chòi lá, tiếp nàng là bà nông trung niên.

  - Cô ơi cho hỏi anh Đại có nhà không?

  Bà nông nhìn nàng dò xét.

  - Nhà này đâu có ai tên Đại, cô có tìm lộn chỗ không?

  Nàng lúng túng.

  - Hôm mùa nước tôi có chụp hình trâu ở đây, có một người cởi trâu tên Đại.

  - Mấy đứa cởi trâu là con cháu tui không hà, hỏng có đứa nào tên Đại.

  - Có một người mà cả nhóm gọi bằng cậu, lúc thì kêu tên Đại, Lão Đại.

  Bà nông bật cười, nụ cười thân thiện.

  - À! Người cô hỏi chắc là cậu Phúc, Lão Đại là tên con trâu đầu đàn mà cậu cởi.

  Nàng bật cười. Giờ thì nàng đã hiểu vì sau lần đó bọn họ cười khi nàng hỏi tìm Lão Đại, họ cười vì nàng tìm trâu. Bà nông tốt bụng dễ tính, nàng xưng là phóng viên, tìm hiểu và viết bài về người nuôi trâu vùng đồng bằng. Khi nông thôn được hiện đại hóa, những người nuôi trâu thường có nỗi lòng, trâu không còn bạn đời của nhà nông, nuôi trâu chỉ bán thịt. Khui đúng tâm, hỏi đúng tầm, hỏi cái gì bà nông cũng nói. Cuộc trò chuyện kéo dài, nàng biết hắn từng điên vì tình, biết hắn là họa sĩ, những bức bích họa trong Chùa Đa là do hắn vẽ, tính ra hắn cũng là một kỳ tài. Hôm trước nàng nghi nghi, khi nàng gợi ý tới Đào, bà nông nói liền.

- Cô từng tới đây, chắc cô biết con gái tui, con Đào.

- Biết, một gái cô rất là xinh.

- Con nhỏ xinh vậy, sinh viên cái trường gì đó mai mốt ra làm phóng viên giống như cô, tương lai phơi phới đùng cái đâm đầu thương ông cậu đó đó, tui cản hoài mà nó hỏng nghe.

- Ủa tôi thấy ông đó cũng được, cô kể thì gia thế ổng cũng đàng hoàng, sao cản.

- Được gì cô ơi, ai cũng nói ổng bình thường, chớ tui thấy ổng còn điên, điên còn nặng hơn lúc đầu. Tui hỏng có ham giàu, lấy phải chồng điên, khổ cả đời…nhờ ổng điên điên mà tui hên nghen cô.

  - Là sao?

  - Vụ con Đào là bà muốn, nhưng ổng hỏng chịu, ổng nói ổng ờ vậy, già chút nữa ổng đi tu… nhờ vậy mà con nhỏ thoát, hú hồn.

  Nàng tò mò.

  - Ông Phúc gì đó có làm gì bậy bạ mà cô nói ổng còn điên.

  - Hồi đó thất tình, ổng bỏ công ăn việc làm ngồi thừ lừ dưới gốc đa hết ngày hết tháng. Sau này thì ổng vẽ vời, ghim đầu vẽ ngày vẽ đêm. Rồi ổng mua máy chụp hình, gặp cái gì ổng cũng chụp, chụp con gà, con vịt, con chim, rồi chụp trâu, chụp cỏ, chụp nước, nói chung là ổng sống hỏng có bình thường.

  - Đúng rồi, tuổi đó người ta lo công danh sự nghiệp, chắc ổng bị rảnh?

  - Bởi…tui nói thần kinh ổng có vấn đề mà hỏng ai tin.

  Nàng cười thầm, hắn là một nghệ sĩ, mà nghệ sĩ ông nào cũng có máu điên. Cậu nàng cũng là một họa sĩ, nàng hiểu. Người bình thường như bà nông, nói hắn điên điên, chính xác.

  - Muốn gặp ông Phúc đó, tìm ổng ở đâu?

  - Cô quay ra, chạy hết cái đường quẹo phải tới ngã ba chỗ đó có cái nhà cổ, ổng ở đó.

  Nàng biết cái nhà cổ, biết ngã ba đó, tại đó nàng từng nghe hắn nói hai từ: “quên đi”. Trời trưa nắng gắt, nóng hừng hực vậy mà bước lọt vào trong cái nhà cổ, mát lạnh, nói về kiến trúc người Pháp là bậc thầy. Nhà trống trơn, gọi lớn mà không nghe hồi âm. Theo lời bà nông: “ Bên hiên nhà ổng che cái chái, ổng vẽ, tranh treo đầy”. Nàng bước qua mái hiên, cửa chỉ khép hờ. Đúng như bà nông nói, tranh treo đầy trên tường, gát trên kệ, chất chồng lên nhau trong góc. Nàng lạc vào một thế giới tranh, huyền ảo. Đa phần là tranh phong cảnh với tông xanh làm chủ đạo. Hắn vẽ màu nước, cảnh đẹp như hình chụp, tranh có thần. À! Đây rồi, Tiểu Mộc chính là hắn. Góc mỗi bức tranh điều có ghi tên, lời bà nông là thật.

  - Cô là ai? Tới đây có việc gì.

  Trong lúc nàng đắm mình trong thế giới tranh, một câu hỏi làm nàng gật mình. Thoạt nhìn nàng biết đây là mẹ hắn. Bà đẹp, sang trọng, quý phái, nhưng đôi mắt thì nhìn nàng lạnh tanh, hắn đã từng nhìn nàng như vậy, đôi mắt lạnh, hắn di truyền từ mẹ.  

  - Con là Minh, con tìm bạn Phúc.

  Đây là kịch bản mà nàng chuẩn bị sẳn.

  - Cô là bạn Phúc?

  - Dạ, bạn trường Mỹ Thuật.

  - Cô nhỏ hơn nó nhiều?

  Bà thật tinh tế, nhìn là nhận ra ngay, nàng mới hai mươi hai, sinh viên năm cuối Rmit.

  - Dạ, lúc ảnh sắp ra trường, con mới vào năm nhứt. Bác tưởng con trẻ à, con hai mươi sáu rồi. Có một số người khuôn mặt miễn nhiễm với thời gian, như bác nhìn chừng bốn mươi.

  - Cảm ơn con, bác năm mươi hai rồi.

  Bà cười rót một ly nước mát đặt trên bàn.

  - Uống nước, con ngồi chơi để bác điện nó về.

  Bà hỏi vài câu rồi bỏ đi, trước khi đi bà nhìn nàng cười, nụ cười của bà làm nàng nhột. Trên bàn hắn đầy sách, có những cuốn ố vàng củ kỷ, lạ toàn bộ sách đều cùng một chủ đề, sách viết về Bồ Đề Đạt Ma. Hắn muốn gì, định vẽ Sư Tổ? 

  - Chào!

  Hắn quẩy túi máy ảnh bước vào. Tuy đã chuẩn bị tâm lý, thấy hắn nàng vẫn lúng túng.

  - Chào! Nhớ tôi không?

  - Không, tôi biết quý cô tên Minh, nhưng nhớ thì không?

  Bình thường nàng đã nổi cơn, nhưng lần này nàng cười.

  - Lắc léo ngôn từ quá, làm khổ người đối diện, Minh tới đây muốn hỏi anh một câu, tại sao gọi Minh là gà đất chó kiểng?

  - Có Smartphone gỏ vài cái, giáo sư Goole trả lời liền, tới đây chi cho mệt.

  - Nhưng tôi muốn nghe anh nói.

  - Tự hiểu đi.

  Hắn nói chuyện dùng toàn câu kết, cái này là muốn đuổi khách.

  - Xuất hiện đằng kia là phóng viên, tại đây là bạn học, quý cô đang toan tính gì?

  - Tự hiểu đi.

  Nói xong nàng bật cười. Thấy nàng cười, hắn cũng cười theo, khi cười đôi mắt hắn sáng lên ấm áp. Người ta nói những người có đôi mắt lạnh thường dấu bên trong là trái tim nồng.

  - Tài thiệt, chuyện vậy mà cũng biết.

  - Tài cán gì, đang chụp mấy con cò Ốc, mẹ điện nói bạn tìm, chạy về có người chặn báo tin có cô nhà báo kiếm, chưa thấy chớ biết là ai rồi.

  Nàng đánh trống lãng.

  - Cò Ốc, tên lạ quắc, hỏng biết?

  - Cò Ốc là loài chim thuộc họ Hạc, có người gọi nó là Bạch Hạc.

  - Woa…người ta nói chim dòng Hạc rất đẹp, có cho Minh xem hình không?

  Hắn lấy cái máy đưa ra, Nikon 750, dòng máy có gương lật nàng rành. Ôi Chúa ơi, hình đẹp như tranh, cảnh tượng cả nghìn con bay lên, tuyệt. Hắn chụp hình thật nét, coi sướng con mắt. 

  - Cho Minh đi chụp hình với, thích quá.

  Hắn không trả lời mà chỉ nhìn nhìn nàng dò xét.

  - Hỏng cho thì thôi, hiểm!

  - Chụp Cò Ốc là phải đi buổi trưa, nắng lắm, quý cô chịu nỗi không?

  - Thử đi rồi biết.

  - Muốn thì 8 giờ sáng mai có mặt, sau vài ngày nữa là không tìm được Cò Ốc.

  - Ok, sáng mai Minh có mặt.

  Mẹ hắn gọi từ bên nhà lớn.

  - Mẹ dọn cơm rồi, con mời bạn qua ăn.

  Nàng lè lưỡi nói nhỏ.

  - Trời, được ăn cơm nữa hả, có phiền không?

  Hắn nhún vai, mặt tỉnh rụi.

  - Không ăn mới phiền…mấy người xưng là “bạn” mà!

  Nàng cười lắc đầu rồi rón rén nép sau lưng hắn bước qua ngôi nhà lớn.  

*

  Hắn hút nàng, hút tự nhiên như thể hắn là nam châm, nàng chỉ là vụn sắt. Đi chơi với hắn là cả một trời vô tư, một trời thanh thản. Trong khi ý trí nàng còn dè chừng, phân tích, đánh giá thì bản năng, bằng ngôn ngữ hình thể đã cảm nhận ra hắn là người tốt, hắn vô hại. Ngay thời điểm đó, hỏi kết luận đó dựa trên cơ sở nào, thua. Bằng lý trí, nàng sẽ không có một chiều len trâu đẹp, và cũng bằng lý trí trong mắt nàng, muôn đời hắn chỉ là thằng chăn trâu.     

  Sau lần đi chụp cò Ốc, hắn chấp nhận nàng là bạn trên Facebook. Biết phân tích, tổng hợp, trang cá nhân trên Facebook sẽ cung cấp khối thông tin. Khi được phép, nàng thức nguyên đêm vào “nhà”  hắn lục tung mọi ngóc ngách. Trong veo, hắn không viết Status, không nhận định, không đánh giá về bất cứ điều gì. Hắn chỉ đưa hình, hình phong cảnh và không lời chú thích, ai muốn hiểu thế nào cũng được. Hắn là họa sĩ, nhưng “nhà” hắn không treo một tấm tranh…điểm nổi bật, đa phần hình trên Facebook của hắn đều có mặt trời, còn nhận định đó là bình minh hay hoàng hôn hắn dành cho người xem. Sau quá trình phân tích, nàng kết luận, hình như với hắn ngày nào cũng là ngày mới. Có Facebook, người ta dễ gần nhau hơn, hai người xa lạ, thoáng cái thân quen. Nàng mở Masage.

  - Sun

  - Gì.

  “Sun” là nàng đặt cho hắn. Thấy “nhà” hắn treo toàn hình mặt trời, nàng thắc mắc: “ Hình như anh ghiền mặt trời?”. “ Mặt trời là tên của anh”, “Xạo vừa thôi ông, tên ông là Đông Phúc, em thấy hỏng có chút liên can gì tới mặt trời”. “ Em sai, Đông là phương đông, Phúc là phú phần, phúc phần tới hướng đông là gì….tự hiểu đi, hihi”. “Sun?”. “Sao gọi anh là Sun?”, “ Tự hiểu đi, hihi”. “Em có biết gì sao anh ghiền mặt trời không?”, “Anh nói đi, em đang nghe”. “Trên thế giời này không có vật thể nào đẹp và huyền ảo như mặt trời. Không mặt trời, mọi cảnh, mọi vật đều nhợt nhạt…mặt trời biến mất, thế giới diệt vong. Phong cảnh đồng bằng, không núi, không biển…mặt trời là điểm nhấn tốt nhứt cho một bức tranh phong cảnh. Hằng ngay chụp mặt trời là một cách anh in nó vào trong tâm thức, in sâu đến một độ chỉ cần nhắm mắt, trong anh có vầng thái dương lồ lộ. Ngủ, có những giấc mơ anh thấy mình lạc trong một thế giới màu kỳ lạ, rực rở…đó là do hiệu ứng tiếp xúc nhiều với ánh mặt trời, tiềm thức thẩm thấu dãy quang phổ của ánh sáng một cách vi diệu, anh cảm thụ được cái hồn của màu”. Nghe hắn tâm sự, người không biết sẽ nói hắn khùng…còn nàng, nàng yêu cái khùng khùng đó của hắn…   

  - Thấy anh đưa hình những cuộn rơm trên đồng, đẹp quá.

  - Đang thu hoạch Đông Xuân, rơm cuộn trên đồng đâu đâu cũng có.

  - Em xuống dẫn em đi chụp nghen.

  - Thích thì chìu.

  Thường hắn không rủ rê, nàng đòi, hắn chìu và họ từng hẹn nhau tung tăng rong ruổi. Đi với hắn nhiều và nàng hiểu hắn hơn, khi hiểu nàng mới thấy thấy kết luận của nàng về hắn là đúng, hắn đang sống với thực tại, một kiểu sống thiền giữa đời thường.

  Một lần nàng nhận xét về hắn.

  - Anh có một tâm hồn khỏe khoắn.

  Hắn cười.

  - Chỉ có người cũng khỏe khoắn tâm hồn mới nhận ra một  tâm hồn khỏe khoắn nơi người khác.

  Đối đáp xong tự nhiên hai đứa nhìn cười, vui ghê.

  Có lẽ nàng yêu…đi với hắn nơi đâu nàng cũng thấy đẹp, ăn cái gì cũng thấy ngon. Như chiều nay, lội rong trên đồng, nắng chang chang vậy mà nàng cứ thấy mình cười. Nắng chiều vàng ươm, những cuộn rơm phơi mình, mùi rơm rạ thơm nồng, hình chụp tấm nào cũng bong nắng, đẹp lung linh.

  Bạn hắn một tay lái máy kéo thu rơm cuộn, họ tình cờ gặp nhau trên đồng.

  - Nhậu hông?

  Hắn nhìn nàng.

  - Nhậu hông?

  Từng rong ruổi với hắn, từng dự những lần ăn uống bất chợt, nàng không lạ.

  - Anh ở đâu, em ở đó, lo gì.

  - Mày có mồi gì mà rủ?

  - Có mấy con cá lóc, sẳn rơm, ba mươi giây là có mồi.

  - Ok.

  - Lên xe.

  - Chiếc hon da tao dựng ngoài kênh Kháng Chiến, tao phải lấy xe.

  - Quăng chìa khóa đây, lính tao lấy cho, sẳn mua rượu luôn.

  Hắn nhảy lên xe rơm rồi kéo nàng lên. Chiếc xe chất đầy rơm cuộn cao vút, nó lắc lư qua những con đê, chao nghiêng qua những vũng sình, mới nàng sợ, bám chặt vai hắn, quen, mỗi khi xe nghiêng, nàng cười khoái chí. Được ngồi bên hắn, bám vai hắn…mùi từ hắn tỏa ra làm nàng ngây ngất. Xa xa, mặt trời xuống thấp, lơ lững trên ngọn cây, khói đồng ai đó đốt, những cuộn khói trắng in lên bầu trời xanh trong vắt…tự nhiên nàng thấy tay mình chạm tay hắn, hai bàn tay đặt trên cuộn rơm chạm khẻ vào nhau. Ngón tay út của nàng, cái ngón nhỏ xíu nghịch ngợm, nó khều khều ngón tay út của hắn. Bàn tay hắn bất động, ngón tay út của hắn vô cảm…nó không biết. Tới lần thứ ba, nó động và khi động nó chồm lên đè ngón út của nàng, đè mạnh như không cho nó nghịch ngợm nữa…ừ hứ, hỏng cho thì thôi, nàng đề im và hắn cũng im…lạ cái là hỏng ai rút tay về…nàng cười nhìn về chân trời, ở đó mặt trời đỏ hồng tròn vo, nó nhìn nàng hấp háy, trêu ghẹo….tự nhiên mặt nàng nóng bừng….    

*

  Nàng đăng facebook, lên tường là bức ảnh hoàng hôn, mặt trời đỏ hồng lơ lững trên ngọn cây, xa xa những cuộn khói trắng bay bay. Status trích lời bài hát “Trót yêu anh rồi” của Hồ Ngọc Hà.

                     Chẳng muốn xa anh anh ơi

khi em trót yêu anh mất rồi

Cứ muốn bên anh yêu thôi,

thời gian ấy ôi sao tuyệt vời

Khi một tình yêu đến bên đời,

em sợ mọi thứ đổi dời

theo tháng năm….

Ảnh thì trong máy của nàng, người chụp là hắn…nàng nhớ rất chi tiết, lúc đó hắn cầm máy nàng, cầm một tay, ống kính gát lên vai nàng …hai khuôn mặt chỉ cách nhau qua cái body máy ảnh. Hắn chụp một tay là vì…lúc đó ngón tay út bàn tay kia của hắn và nàng xoắn vào nhau, không rời…. 

  Trên Facebook, đèn “nhà” hắn sáng, nhưng… chủ nhà đâu? Chắc hắn đang vẽ, mỗi khi nghĩ tới hắn, lòng nàng thấy ấm áp ngọt ngào, quen nhau chưa lâu, nhưng kỷ niệm thì đầy. Một lần cả hai đi chụp hoàng hôn trên Sông Tiền, mắc mưa, về trể. Nàng ướt, lạnh, mẹ Tiên, mẹ hắn ân cần.

  - Bác đã xả nước nóng, chuẩn bị đồ cho con thay trong phòng tắm. 

  Phòng tắm nhà hắn rộng, sạch sẽ, mẹ Tiên là một phụ nữ ngăn nắp, tinh tế. Mẹ Tiên chuẩn bị cho nàng hai bộ đồ. Một bộ đồ ngủ dáng nữ, chắc đồ của mẹ, một bộ pijama đồ nam, đồ thơm lựng mùi dầu xã. Bộ pijama hơi rộng một tí, nhưng khi nhìn mình trong gương, nàng thấy mình lạ…lạ nhưng rất là xinh. Người Pháp hay!Tới đồ ngủ mà họ cũng thiết kế thật là tinh tế. Đúng ra nàng có xe riêng, có thể về Sài Gòn ngay trong đêm, nhưng sau bữa cơm mẹ Tiên không cho nàng về.

  - Mưa gió tầm tả mà về cái gì, ở lại đây.

  Sau bữa cơm thân mật ấm áp, thật tình nàng cũng không muốn về. Thường những người sống thật thường nhút nhát, mẹ Tiên cũng là típ người sống thật, nhưng bà rất mạnh mẽ. Bà mến nàng và nói thẳng.

  - Bác không biết hai đứa quen nhau trong trường hợp nào, nhưng bác biết một điều chắc chắn hai đứa không phải bạn cùng trường.

  Nàng ngượng, hắn cũng thừa hưởng từ mẹ điều này, thẳng như tát vào mặt người khác.

  - Bác thích con, hồi trẻ bác cũng giống con, trong hành trình tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc chỉ đến với những ai biết kiên nhẫn, biết lắng nghe, biết nổ lực và có dũng khí đương đầu với thử thách.

  Nghe bà nói nàng ngạc nhiên, điều đó nằm ngoài suy nghĩ của nàng.

  - Bác, anh Phúc nói….

  Câu hỏi bất chợt ra tới miệng nàng kịp dừng lại…hỏi một câu lơ mơ “đường bột” gì cũng hư hết.

  - Con muốn hỏi gì…cứ hỏi?

  - Thôi, con không dám.

  - Bác biết…ý con nói Phúc thụ tinh ống nghiệm, bác biết gì về tình yêu mà nói.

  Nàng cúi mặt, điều này hắn cũng thừa hưởng từ mẹ, hắn thường đọc được suy nghĩ của nàng. Bà nhìn thẳng vào mắt nàng.

  - Con tin Phúc được thụ tinh trong ống nghiệm không?

  Nàng nhìn thẳng, dứt khoát.

  - Không.

  Bà cười vuốt đầu nàng.

  - Những người dám sống họ dễ hiểu nhau.

  Nàng đắn đo.

  - Bao nhiêu năm nay bác vẫn một mình…ông ấy…

  - Được dõi theo người mình yêu, biết trong tim người ấy vẫn có chỗ dành cho mình thì dù bản thân có bước đi trong bóng tối cũng la hạnh phúc…ông ấy vẫn bên bác trong suốt thời gian qua.

  Nàng nắm tay bà.

  - Ông ấy hẳng phải có gì rất tuyệt vời…xứng đáng với hi sinh của bác.

  - Trong tình yêu chỉ có yêu hay không yêu, không có chuyện đáng hay không đáng. Cả đời gặp được một người như vậy, sống không uổng phí.

  Bà vỗ vai nàng.

  - Rồi con sẽ biết, con đang tiếp xúc với phiên bản của ông ấy…càng lớn, Phúc càng giống ông ấy, quyết đoán, mạnh mẽ nhưng tâm tính thì quá rất thiện lương.

  - Bác…ảnh mạnh mẽ là thật, chuyện ảnh điên cũng thật… kết hợp lại con thấy có gì đó sai sai.

  - Sau này con có con, con sẽ hiểu…sống là sự va đập, chỉ có người từng yêu, từng bị tổn thương họ mới có dũng khí đối diện với sự yếu đối của mình…và vượt qua.

  Mẹ Tiên là một phụ nữ tuyệt vời…bà là một “Mẹ Hổ”, “ Mẹ Hổ” xứng đáng. Hắn được nuôi dạy trong một môi trường nghiêm khắc nhưng đầy yêu thương, sống tự do nhưng phải có trách nhiệm. Sau này, nàng sẽ học tập sẽ dạy con như mẹ. Nhưng không biết mình có vượt qua được như mẹ không, bởi yêu thương thì ai cũng yêu thương, nhưng nghiêm khắc, nghiêm khắc đến độ gần như “tàn nhẫn” của những “Mẹ Hổ”, những bà mẹ thông thường, thua.

  - Con nghĩ một ngày nào đó bác nên nói cho ảnh biết…kẻo ảnh bị lạc.

  Bà cười, nụ cười hiền, hiền nhưng ngấm ngầm kiêu hãnh. 

  - Bị gì nữa? Nó lạc rồi, Phúc thường nói nó là người đi lạc vào thế giới này…và bác thả, mặc cho nó lạc. Tâm nó thiện lương, cứ để nó sống theo cái cách của nó…

  Những cuộc trò chuyện chân tình thường có những khoảng lặng... “Người thiện lương thường hay thua thiệt”. Nàng nghĩ sau này có con, con nàng thiện lương, nàng có kiêu hãnh như mẹ không?.. hay tối ngày xối xả chửi nó là đồ ngu, đồ đần, đồ sống chỉ để thiên hạ lợi dụng.

  - Con có biết gì sau xã hội ngày càng ít người thiện lương không?

  -……………………

  - Vì họ không được bảo vệ. Người thiện lương không có kỷ năng bảo vệ mình, khi họ biết tư bảo vệ mình thì họ không là người thiện lương. Để người thiện lương tồn tại, họ phải có người bảo vệ.

  Bà nhìn như soi vào mắt nàng.

  - Con hiểu không?

  - Dạ hiểu!

  Và nàng nhìn bà, nhìn chằm chằm, ánh mắt dò xét, nghi vấn.

  - Con hỏi thiệt…hình như bác hiểu rất rỏ về con.

  Bà cười, nụ cười ấm áp.

  - Vì bác là người bảo vệ, bác biết “ Family Meal”.

  “Family Meal” là ý tưởng của nàng. Sau ba năm phát triển đã có chân rết về tới các huyện thị. “Family Meal” dịch tiếng việt là bữa cơm gia đình. Phương châm của “Family Meal” để gia đình hạnh phúc dù bận thế nào, gia đình phải có một bữa ăn chung, bạn chỉ cần ghé vào “Family Meal” , “Family Meal” lo hết. Tuy ra sau nhưng “Family Meal” cạnh tranh trực tiếp với “Bách hóa xanh” và vượt qua.

  - Bác…bác thiệt kinh khủng quá đi!

  - Bác có người quen, và sử dụng tốt sức mạnh của sự quen biết. Còn kinh khủng hả? Người quen của bác mới kinh khủng…

   Từ lúc đăng bài nàng chờ…thiên hạ vào comment quá trời nhưng hắn thì im thinh thít. Sau một hồi suy nghĩ, đắn đo, nàng gởi đường line bài hát “Trót yêu anh rồi”  cho hắn, gởi qua Masage cá nhân. Hắn trả lời liền, đường line của hắn là bài hát “Người hãy quên em đi” của Mỹ Tâm. Nàng bật cửa sổ Masage.

  - Là sao?

  - Nghe đi thì biết.

  - Em biết bài hát đó, nhưng em không hiểu dụng ý của anh.

  - Chả có dụng ý gì hết, đơn giản đó là một bài hát hay.

  - Anh thật vô tâm.

  - ………………

  - Anh chẳng những vô tâm mà còn ác nữa.

  Đèn “nhà” tắt cái bụp, xong. Với nàng đó là sự xúc phạm ghê gớm, nàng thấy mình bị tổn thương…không khóc mà tự dưng ứa nước mắt. Tích tắt, nàng Unfriend hắn liền, “Endgame”, hắn nghĩ hắn là ai.

*

  Một ngày, hai ngày, ba ngày…rồi một tuần…một tháng. Nàng tự nhủ lòng nàng không đếm thời gia, mà đếm hay không đếm thời gian cũng tự trôi. Hắn có biết nàng đã Unfriend hắn không, nếu biết vì sao hắn im lặng…hỏng lẽ trong lòng hắn, nàng không có chút cờ gam nào. Có một lúc nàng loáng thoáng thấy đèn “nhà” hắn sáng, nhưng lúc đó nàng giận không quan tâm. Đến lúc quan tâm, thắc mắc thì “nhà” hắn đèn tắt luôn, tắt đến độ nàng phát hoảng. Hắn đã gặp chuyện gì?

  Bận gan, nàng bấm máy gọi, tò tí te, máy không liên lạc được. Nàng điện mẹ Tiên.

  - Bác, anh Phúc có nhà không sao con điện không được.

  - Ủa, hỗm rày con với nó không liên lạc à?

  - Dạ, con bận việc.

  - Phúc đi chùa gần tháng rồi, chỗ đó sóng điện thoại yếu, bác cũng không liên lạc được.

  À! Chuyện này nàng biết, hắn có nói. Hắn hứa vẽ cho ngôi chùa nào đó ở Thất Sơn một bức bích họa, và dự kiến rằm tháng bảy mới bắt tay làm, bây giờ mới tháng 3. Tự nhiên hắn quăng cho nàng cục lơ rồi biến đi chùa là sao? Hắn muốn gì? Mình đã làm gì sai?

  Từ lần đầu đi chụp cò Ốc, cả hai thường xuyên hò hẹn nhau đi chụp hình, hắn coi nàng như bạn. Mới đây, tháng trước nàng cùng hắn đi chụp rơm, hai đứa mới chớm thân hơn tí…hắn lơ. Với nàng, buổi chiều hôm đó là một buổi chiều mơ…về tới cái trại hắn tuột xuống trước rồi giơ tay đón nàng. Xe rơm cao, cao gần bốn năm thước nàng sợ. Hắn phải giơ hết tay lên đón nàng, đón từ gót chân rồi để nàng từ từ tuột xuống, một thoáng mặt hai đứa chạm nhau, mũi nàng trượt nhẹ trên má hắn, một thoáng nàng cảm nhận vòng tay hắn ghì nhẹ quanh hông nàng rồi buông.

  Bạn hắn một gã nông chơn chất hỏi.

  - Em có muốn ăn cá nướng ngon hông?

  - Là sao?

  - Muốn ăn ngon em phải hành nó, nó nướng cá nghệ thuật lắm, rất ngon.

  - Nướng cá có gì mà nghệ thuật, đốt lửa lên lật qua lật lại là nó chín .

  Hắn cốc đầu nàng.

  - Biết thì nói, không biết dựa cột mà nghe.

  - Em nói gì sai? Cá hơ trên lửa gọi là nướng cá.

  Hắn cười.

  - Từ nướng cá đến ăn con cá nướng là một quá trình, cái đó người ta gọi là ẩm thực và khi dùng từ ẩm thực thì đó là nghệ thuật.

  Và khi nói đến nghệ thuật thì phải có nghệ nhân. Hắn chính là nghệ nhân. Đầu tiên hắn đi vòng vòng quanh đống rơm lựa ra hai cuộn rơm sạch, vót hai cọng tre xiên trổ hai con lóc to, xiên từ miệng trổ xuống tận đuôi rồi cắm xuống đất, đầu hướng lên trên.

  Gã bạn hắn đứng nhìn rồi cười với nàng.

  - Cái đó lá ghệ thuật đó em, thông thường nướng cá người ta cắm đầu xuống đất, còn nó thì đưa lên trời.

  - Why?

  Hắn pha chế một thứ hỗn hợp gồm nước mắm, bột ngọt, tiêu và ớt bột. Sau đó rót vào miệng cá mỗi con chừng nửa muỗng cà phê. Xong xuôi hắn ủ xung quanh hai con cá một lớp rơm mỏng, bật lửa. Rơm khô bùng cháy, lửa reo tí tách, khói trắng từng sợi bay lên len trong nắng chiều…đẹp quá, nàng lấy máy chụp mấy tấm liền. Hắn chỉ nàng mở cái gương lật, hạ máy xuống thật thấp lấy cận hai con cá đang nướng, phía sau là mặt trời đang lặn...từ lúc cầm máy, đây là lần đấu tiên nàng biết công dụng của gương lật, ảnh tuyệt đẹp, và đẹp nhứt là gì trong hình có hắn ngồi nướng cá.

  Rồi nàng dành cái cây khều rơm từ tay hắn, tập nướng. Lửa nóng, nàng nghe được tiếng nước sôi òng ọc phát ra từ miệng cá. Hắn giải thích.

  - Thường người ta ghim đầu cá xuống, mục đích là để nhớt cá chảy hết xuống đất. Khi chín thịt cá khô, không ngon. Người ta nghĩ nhớt cá dơ, mà không biết đó là nhủ tương, nước tiết ra từ xương từ thịt. Đưa đầu cá lên là giữ được nước ngọt từ cá, đốt nóng nước sẽ thấm ngược vào thịt, chín thịt thơm, ngọt

  Khi cá được hong khô, nước hết sôi, hắn gạt tro cắm ngược con cá trở xuống, rồi phủ lên một lớp rơm dầy, đốt. Gả bạn hắn xăm xoi theo dõi rất chăm chú.  

  - Nó nướng trước mặt anh hoài, làm sao anh làm y vậy, nhưng cá vẫn không ngon bằng nó.         

  Nàng thúc nhẹ hông hắn.

  - Why!

  - Lửa…trong tất cả các món nướng, ngoài những cách pha chế gia vị, lửa đóng vai trò quan trọng nhứt. Người nướng phải biết điều chỉnh lửa, lúc nào mạnh, lúc nào yếu, lúc nào áp…và với từng loại thịt, chế độ lửa cũng khác nhau.

  Gã bạn lắc đầu.

  - Rắc rối quá, thua…

  Hắn nói đúng, chỉ có người rành về lửa, về rơm mới canh được như hắn. Khi gạt tro, hai con cá đen thui, tưởng khét,  nhưng gạt vẩy thì da cá hiện lên vàng ươm, phát thèm. Tiệc nhậu đơn giản, chỉ hai con cá nướng, một ít rau đồng, vậy mà ngon ơi là ngon, ăn tới đâu thấm tới đó. Hắn làm một cái ruột cá, lấy mật, loại bao tử, ngắt phần ruột già rồi để vào chén nàng.

  - Dám ăn hông?   

  Nhìn ghê ghê…hồi nào giờ nàng chưa từng ăn. Mùi thơm từ nó hấp dẫn quá, hương thơm là vị từ nửa muỗng nước mắm hắn chế lúc chưa nướng. 

  Nàng cuốn thêm miếng rau rồi chấm vào chén mắm me. Chúa ơi! Nó ngon. Gã bạn hắn đưa nàng ly rượu.

  - Ăn ruột cá mà không uống chút rượu, sình bụng chết đó.

  Uống thì uống sợ gì, xỉn có hắn lo. Không biết từ lúc nào, nàng luôn tin tưởng hắn, tin hắn sẽ chăm sóc nàng dù hai đứa chưa là gì của nhau. Nàng cầm ly rượu, liếc mắt nhìn hắn, xem thái độ của hắn.

  - Sống mà suy nghĩ nhiều quá không hay, thích là uống.

  Nàng ực một cái hết ly. Má ơi, nó cay và nồng…nồng đến độ xí nữa là nàng sặc, rượu đi tới đâu, biết tới đó và khi nó dừng lại bụng nàng ấm lên…và khi bụng ấm, tự dưng hai mắt long lanh.

  Trời tối, trăng lên, cảnh thật nên thơ. Tội cái muỗi nhiều quá, nó chích nàng, chỉ mỗi nàng mà không chích hai thằng cha ngồi nhậu chung. Trong khi nàng đập muỗi lốp bốp, hai thằng cha nhậu tì tì mà có con muỗi nào chích đâu. Hắn nhìn nàng cười.

  - Chắc tại thịt em thơm, muỗi chích ghiền, để anh xông tí khói là hết liền.

  Hắn nhìn gã bạn.

  - Cho tí khói đi mậy, nãy giờ muỗi cũng chích nát tao rồi.

  - Ủa, nãy giờ em tưởng nó không chích anh chớ.

  - Anh chỉ là thằng cởi trâu chớ không phải là trâu.

  Gã bạn vác bốn cục rơm cuộn để bốn góc, gã chế nước lên rồi đốt…khói tuôn ra cuồn cuộn, chỉ một lát muỗi biến sạch. Lúc nhậu, hắn còn hứa lần sau sẽ tự tay nướng cúm núm đãi nàng.

  - Cúm núm là con gì?

  - Sài gòn họ kêu là gà nước.

  Đang vui, tự nhiên lơ…từ lúc biết, hắn luôn làm nàng bất ngờ.

*

  Qua mẹ Tiên, gặp Sư Mộc, nàng lên tận thất sơn tìm hắn. Lại một bất ngờ nữa, hắn mặc áo nâu sòng, đầu cạo trọc lóc. Thấy hắn như vậy, bao giận hờn, tự ái, tự trọng, tự tự gì cũng trôi sạch. Nàng khóc.

  - Anh…anh xuống tóc đi tu à?

  Nàng thì khóc, còn hắn thì cười.

  - Ai nói với em cạo đầu là tu.

  - Anh vô chùa, mặc đồ tăng, cạo trọc đầu hỏng tu gọi bằng gì?

  - Thiền người ta chú trọng chữ Ngộ, nhưng muốn Ngộ thì phải “Thoát”.

  À! Hắn muốn thoát, ai cho hắn thoát???

  Chùa là nơi tôn nghiêm, hắn hẹn gặp nàng ở chân núi. Để không làm heon ố cửa Thiền, khi xuống núi hắn mặc đồ sơvin, đầu đội kết che đi cái đầu trọc. Hắn hỏi nàng có ăn được lòng bò không, hắn biết có một quán bò rất ngon. Ở Chùa, ăn cơm chùa cả tháng trong hắn mập mập trắng trẻo ra, nhìn là muốn cắn rồi.

  - Anh em cũng ăn nữa chớ bò nhầm nhò gì?

  Hắn cười, thái độ hắn rất vô tư, hình như hắn không biết nàng giận, nàng Unfriend hắn trên Facebook.

  - Thoát là sao, nói rỏ em nghe đi.

  Hắn kể, để vẽ bức “Diện Bích” hắn tìm đọc rất nhiều tư liệu về Tổ Thiền Bồ Đề Đạt Ma. Lên chùa, hắn ngồi úp mặt vào chính bức tường trống, nơi vẽ bức “Diện Bích” tìm cảm giác. Sống trong chùa, ăn cơm chùa, công phu như tăng…hên, chỉ một thời gian, hắn tìm được cảm giác thoát. Sư nói hắn ngộ tính cao, căn cơ có duyên với nhà Phật.

  - Vẫn chưa hiểu.

  - Thông thường tay mình vẽ theo ý, thoát là khi ý tuôn tự nhiên hình nó ra. Những trường hợp như vậy hiếm lắm, bức này là Phật độ, anh chưa nghĩ mình đạt đến trình độ đó.

  - Anh vẽ xong chưa?

  - Cơ bản là xong.

  - Vẽ xong anh có xuống núi không?

  Hắn ăn một miếng lòng bò, hớp một ly rượu trắng.

  - Rượu thịt như vầy, chùa nào chứa.

  Không biết do rượu hay do lâu quá không thấy nàng, hắn nhìn nàng, nhìn chăm chăm.

  - Nhìn gì mà nhìn, làm như hồi nào giờ không thấy người ta.

  - Em tự làm khổ mình chi vậy, được gì?

  - Em làm gì cứ kệ em đi, không quan tâm thắc mắc làm gì? Uống đi.

  Hắn nhận cái ly từ nàng, cái ly chỉ còn một nửa. Hăn trầm ngâm nhìn cái ly, nhìn nàng.

  - Đời anh vốn là một đường thẳng, anh không muốn vì em mà rẻ ngang.

  Hắn nói như tạt vào mặt…hắn không biết nàng là con gái. Nàng cực khổ, nàng lặn lội lên tận đây, cái mà nàng nhận được thật phủ phàng. Tự nhiên nàng thấy sôi máu.

  - Anh uống đi, hết tiệc rượu này em về…anh đâu có biết em là ai.

  - Không cần xong tiệc, em là ai kệ mẹ em, về đi.

  Hắn xúc phạm nàng, xúc phạm ghê gớm. Nàng bật dậy, giọng nàng rung rẩy

  - Anh…anh…em đã làm gì sai...sao anh tàn nhẫn với em như vậy.

  Theo lý trí là nàng đi, bước đi, đi xa nơi này, càng xa càng tốt…nhưng nàng thấy mình đỗ gục xuống bàn, vùi đầu lên tay khóc nấc.

  Hắn ngồi đó nhìn nàng, mắt ươn ướt.

  - Em sai…em sai vì em đã chạm trái tim anh….thật lòng anh không muốn điều đó…tim anh nó điên lắm, anh sợ…

  Lời thú thật từ hắn, nàng càng chạnh lòng, nức nở. 

  - Trong tim anh có em, …em mãn nguyện…em sẽ không làm anh phải khổ nữa đâu… 

  Nàng tìm bàn tay hắn, nắm chặt …những ngón tay đan vào nhau, mắt chìm vào trong mắt…

*

  Một lần nữa, lão Ba lại mò qua tìm hắn. Lần này, lão ngã hết bài.

  - Cậu có biết cụ tổ nhà mình, cụ Đầm để lại cho dòng họ nhà mình một kho báu không?

  - ………………….

  - Cái tàu chìm, cái tàu tạo nên cái Cồn này trong lòng của nó là một kho báu.

  - ………………….

  - Tui biết cậu không tin, tui có bằng chứng.

  Lão móc trong túi ra thỏi kim loại xỉ vàng hình chữ nhật, thỏi kim loại bị nước xâm thực lồi lỏm khắp bề mặt.

  - Cái này là vàng. 

  Hắn im lìm nhìn lão. Khi người ta quá sân si, khuôn mặt thường biến dạng, như lão khi nói tới chữ vàng, hai mắt lão sáng rực tham lam, môi mím lại, mũi nhô ra một cách kỳ dị.

  - …thỏi vàng này là cụ Tổng nhà tui để lại, ổng di chúc cái tàu chìm hồi đó là tàu chở vàng. Thời của ổng không thể đào hết cái cồn, kho báu đó để dành cho con cháu.

  À! Thì ra là vậy. Xưa, cụ Tổng nhà hắn ỷ thế lộng quyền ngang ngược độc chiếm hết cái Cồn là có nguyên nhân. Năm năm nay, lão phân lô đào xới nguyên cái Cồn là tìm kho báu.

  - Ông chưa tìm được cái tàu, ông nghĩ nó nằm trên phần đất của tui, nằm dưới cái lạch cạn.

  - Cậu thiệt thông minh, tui đào, có chia hai.

  Hắn nhìn lão cười.

  - Ông tin chớ tui không tin, đất Nam bộ không có mỏ vàng, thì vàng đâu mà tàu Tây chở.

  - Vàng này là vàng Miên, tàu Tây chạy từ Miên về bị chìm.

  - Nếu là tàu chở vàng, chìm thì Tây lấy đi hết rồi. Sông Cái đâu có sâu, Tây thừa sức lấy.

  - Giả sử tàu chìm, thủy thủ đoàn chết hết, bọn Tây không biết tàu mất tích đoạn nào trên cái sông Cái này…thỏi vàng này là thiệt, vậy kho báu là có thiệt không?

  - Tàu chở vàng, với bọn Tây thời đó vẫn là một tài sản lớn, nếu chìm họ vẫn không để mất đâu. Nếu giả thuyết của ông đúng, vàng đó chỉ là vài thỏi rơi rớt thôi, vàng họ lấy hết rồi. Giàu có như ông, cần chi thứ rơi rớt đó.

  - Cậu không tin, cậu cứ để tui đào. Cậu muốn bao nhiêu ra giá đi.

  Hắn nhún vai.

  - Tui nói rồi, tiền nhiều để làm gì, tui hỏng có nhu cầu.

  - Cậu sống mà không biết lo, cậu không xài thì để dành cho con, cho cháu.

  - Bởi…nghĩ như mấy người mà khổ cả đời, già gần xuống lỗ mà còn sân si. Sinh con ra là phải tin tưởng nó giỏi hơn mình, hay hơn mình…để dành cho lắm của rồi buột nó sống theo ý mình, cái đó là hủy hoại nó chớ đâu phải yêu thương.

  - Cậu nói như thằng khùng…sống ai mà không lo cho con.

  - Ông sinh ra con người, ông dạy nó biết như thế nào là con, như thế là là người. Cho quá nhiều của, nó chỉ biết làm con thôi, không biết làm người. 

  Lão đứng dậy phẩy tay.

  - Khi tui giàu, cậu còn trong trứng…cậu chỉ là thứ ranh con đừng có bài đặt dạy đời. Cậu chưa biết tôi là ai đâu, nể cậu là tui còn thỏa thuận, bằng không….

  Lão bỏ lững câu giữa chừng …

  - Ai nói…tôi thừa biết ông là ai mà.

  - Vậy cậu nghĩ tui là ai?

  - Ông là thằng cha láng giềng ngang ngược, là lão già tham lam…

  Chạm nọc, lão Ba rít lên.

  - Mày tin tao đi, tao không lật được cái lạch đó lên, tao đi bằng đầu. Ăn một mình tao còn dấu diếm…tao công khai, thiên hạ xới tung tổ tiên mỗ mã nhà mày lên.

  Hắn nhìn lão lắc đầu ngán ngẫm.

  - Đúng ra tôi hỏng nói, nhưng thấy ông già mà ngu quá, ông tham mà lú lẫn. Căn cơ dòng họ mình từ đây, không có cái tàu chìm đó là không có cái Cồn, không có Cây Đa, không có cái Chùa. Thiên địa hội tụ, linh khí tự sinh, yên lành bao nhiêu đời nay, chỉ vì một cái kho tàng ảo, ông đào bứng hết căn cơ, hủy đi cơ nghiệp, mai mốt ông chết, còn mặt mũi nào đi gặp tổ tiên.

  - Mày nhìn kỷ đi, tao giàu hay nghèo? Từ trước tới giờ, gia tộc này tao là người giàu nhứt, thiên hạ biết cái gia tộc này là chính vì có tao, có tao, mày biết không? 

  -  Ông cũng nhìn kỷ đi, cái Cồn đẹp như vậy, xanh tươi như vậy, giờ bị ông đào bới nham nhở, hôi thúi, ô nhiễm…gia tộc này ô nhục chỉ vì ông.

  - Nói chuyện với thứ khùng như mày, tao mệt.

  Hắn nhún vai.

  - Tui cũng mệt nữa!

*

  Nàng mở điện thoại đưa hình cho Sanny xem.

  - Cậu thấy bức tranh này đẹp không?

  Sanny liếc nhìn bức tranh, rồi chụp cái máy xăm xoi một lúc.

  - Tao gặp bức này rồi, bức “Long Tranh Hổ Đấu” này ở Chùa Đa.

  - Trời! Cậu tài thế.

  - Tranh tay Tiểu Mộc này tao coi nhiều, tiếc cái toàn là bích họa, không mua bán gì được.

  Cậu nàng là một họa sĩ có tài, tài của cậu không phải để vẽ. Cả đời cậu vẽ không bức nào ra hồn, nhưng cậu có khiếu mua bán tranh. Sài Gòn này cậu có ba cái Galary, tranh có bức bán tới mấy chục ngàn đô.

  - Sao cậu không tìm tay họa sĩ Tiểu Mộc, biết đâu hắn có vẽ tranh.

  - Tao tìm nát, mọi con đường điều về tới Chùa Đa, gặp lão Sư Mộc. Lão nói có duyên thì gặp.

  - Vậy cậu muốn cái duyên đó không?

  - Đừng nói con biết Tiểu Mộc.

  - Con biết, biết hắn vẽ rất nhiều tranh, treo đầy nhà. Con muốn cậu thẩm định tranh của hắn, cậu đừng nói con chỉ, đừng cho hắn biết cậu là cậu của con.

  - Ok, kỳ này là cậu trúng đậm rồi, dân trong nghề đang me tay này dữ lắm.

  Ngày trước, ngày sau cậu đã hồ hỡi tìm nàng.

  - Quá đã luôn, tranh quá đẹp, gần hai trăm tấm, con gạ nó mua đi. Cậu cháu mình lời to.

  Nàng cười.

  - Cậu xấu…tranh của con mà cậu cũng muốn kiếm lời.

  Cậu ngớ ra nhìn nàng.

  - Tranh của con à….là sao?

  - Là sao thì cậu tự hiểu đi…thắc mắc hoài.

  Sanny nhìn nàng, cái mặt bẽn lẽn, con mắt thì sáng ngời ngời.

  - Ạ…cậu hiểu rồi…dạo này con trốn đi Đồng Tháp hoài, yêu rồi phải không?

  - Cậu! Con muốn triển lãm tranh của ảnh, cậu thấy sao?

  - Con muốn sao?

  - Hết tay, thoải mái luôn.

  - Thoải mái là tầm tầm ba bốn trăm triệu đó con.

  - Ok.

  - Ok, cứ giao cho cậu, bảo đảm thành công, thành công rực rở luôn.

*

  - Anh, em muốn tổ chức triển lãm tranh của anh.

  - Để làm gì?

  - Không lẽ anh vẽ mà không muốn thiên hạ chiêm ngưỡng.

  - Ai nói.

  - Nhưng anh không chịu triển lãm…

  Hắn cắt ngang lời nàng bằng một nụ hôn.

  - Nếu tính lượt xem, tranh anh đã đạt triệu triệu lượt nhìn. Những ngôi chùa anh đã vẽ, chùa nào cũng triệu triệu người viếng, ai đi chùa gặp tranh mà không nhìn.

  - Cái đó là bích họa, không phải tranh treo tường.

  - Cần gì ai chiêm ngưỡng, mình em thích là được rồi.

  - Hong…em thích triển lãm cơ.

  Hắn mân mê những ngón tay nàng.

  - Để làm gì?

  Xưa, nàng rất ghét cái kiểu hỏi này cùa hắn, thô, lạnh và mất lịch sự. Khi chưa yêu, cái mặt hắn cứ bơ bơ, kiêu, hỏng có để ai vào mắt. Yêu rồi thì khác, nhìn nàng, mắt lúc nào cũng nồng, ấm.

  - Triển lãm là cách tự giới thiệu mình, để tranh anh được những bậc cây đa, cây đề trong ngành họa thẩm định, đánh giá.

  - Đánh giá? Điều đó anh có lâu rồi.

  - Hồi nào? Ở đâu.

  - Từ từ rồi em sẽ hiểu.

  Nàng đan những ngón tay vào bàn tay hắn.

  - Hén, cho em tổ chức triển lãm hén!

  - Nếu em thích.

  - Hỏng thích ai thèm năn nỉ.

  - Ok, thích thì làm, tổ chức một cuộc như vậy, bao nhiêu?

  - Tùy theo khả năng tài chính, gọn giá khác, hoành tráng giá khác. Nhưng anh đừng bận tâm, chỉ cần anh gật đầu, mọi chuyện còn lại là của em. 

  Hắn nhìn nàng cười.

  - Anh không thích triển lãm, chớ thật sự anh không thiếu tiền.

  Hắn đưa nàng cái thẻ Sacombank.

  - Pass là tám số cuối di động của anh, thứ tự ngược lại. Muốn, em phải dùng cái thẻ đó; không, miễn bàn. Anh nghĩ…cái thẻ đó đủ cho em tung tăng.

  Nàng cầm cái thẻ, nhìn hắn nữa háo hức, nữa trêu chọc.

  - Anh có biết em tung tăng bao nhiêu mà nói đủ.

  Hắn cười rất tự tin.

  - Thừa cho em tung tăng.

  Thấy nàng cầm cái thẻ ngắm nghía với vẻ mặt hoài nghi, hắn đưa điện thoại cho nàng.

  - Muôn biết lịch sử cái thẻ đó không? Từ lúc có, anh chưa đụng tới lần nào.

  Nàng cười ngượng ngùng nhưng tay thì chộp cái di động liền.

  - Nói thiệt…bất cứ bí mật gì thuộc về anh em điều muốn biết, sợ anh chưa cho thôi.

  Nàng lướt lên các tin nhắn.

  - Ôi trời…bức diện bích họ chịu tiền mực, tiền màu ba trăm triệu, cái thẻ này là tiền tỷ…

  - Anh nói mà em không tin, tranh anh được các Sư đánh giá rất tốt. Tranh anh vẽ là tự nguyện, tiền màu, tiền mực là các Sư tự giác.

  - Các Sư đánh giá bằng cảm quan, không có quy chuẩn. Còn triển lãm, tranh của anh sẽ được các nhà chuyên môn, những họa sư tên tuổi nhận xét, đánh giá một cách khoa học, hàn lâm, cái đó mới giá trị.  

  Hắn lắc đầu.

  - Em sai, cái đẹp thường đi thẳng vào tim…sống mà lý trí quá, em sẽ không thấy sự kỳ bí của con tim.

  Nàng vỗ vỗ bàn tay lên ngực hắn.

  - Vậy anh nói thiệt đi …trong đây anh còn dấu em điều gì?

  Hắn nâng khuôn mặt nàng, nhìn sâu vào mắt nàng.

  - Đời anh đơn giãn lắm, chẳng có gì bí mật. Anh không ham tiền, chẳng ham danh, nếu không gặp em, có lẽ một thời gian sau nữa anh vào chùa…anh có cảm giác mình có duyên với nhà Phật.

  Hắn nói một câu, nàng bật khóc liền, khóc ngon lành tức tưởi.

  - Hãy vì em, hãy vì em mà sống, đừng bỏ em một mình nghen anh…

*

  Lần nữa, ba cha con lão hợp kín. Thằng Hồng, thằng con trai báo cáo.

  - Hỗm rày nhà bên đó đóng cửa, mẹ con bà Tiên đi Sài Gòn.

  - Bộ bên đó định về Sài Gòn sống, thấy xe tải chở đồ lĩnh kỉnh.

  - Cái thằng họa sĩ khùng đó quen con khùng khùng nào đó trên Sài Gòn, dám lắm.

  Văn, thằng con rể lão đính chính.

  - Nghe vợ con nói cậu Phúc đưa tranh lên Sài Gòn triển lãm, xe tải mà ba thấy đó là họ xuống chở tranh.

  Lão nhìn Văn thằng con rể. Con lão, chỉ có con Loan coi trọng thằng Phúc khùng, nó nói thằng Phúc tài hoa, và thằng rể lão, cái thằng biết nghe lời vợ, nó cũng từng nói cậu Phúc là kỳ tài..

  - Nghĩ cũng lạ, cái thứ khùng khùng như nó cũng có con thương…mà cái con thương nó lại là con nhà giàu nữa.

  - Sao mày biết con đó nhà giàu?

  - Ba hỏng thấy hả, nghèo sau có ô tô riêng.

  - Thời bây giờ…vài triệu là có ô tô riêng, đàm.

  Thằng Hồng ra vẻ sành sỏi.

  - Xe có bốn cái vòng tròn hỏng ai mua để cho thuê, xe đó chỉ là xe riêng.

  Lão Ba nhìn thằng rể.

  - Mày biết xe có bốn cái vòng tròn là gì không?

  - Dạ hông!

  - Bốn cái vòng tròn là Audi đó, chiếc con nhỏ đó đi là A7, chiếc đó phải trên 4 tỷ.

  Nghe thằng Hồng nổ, lão Ba lộ vẻ trầm ngâm.

  - Ghê!  vậy gia thế con nhỏ này cũng không vừa.

  Lão sống xứ này lão biết, người giàu ai cũng có “nanh”. Như lão, để tồn tại, lão cũng tạo dựng “nanh vuốt”, một là để bảo vệ mình, hai là “thịt” người khác khi cần. Hiện lão lên kế hoạch “thịt” cái lạch cạn, thông tin về con ghệ thằng họa sĩ khùng làm lão bất ngờ. Phụ nữ thường ẩn chứa những yếu tố bất ngờ, mấy chục năm trước lão ngã ngựa vì đã coi thường phụ nữ. Tự nhiên lão có cảm giác bất an.            

  Thằng Văn rụt rè.

  - Vợ con nói hay là mình thôi đi, làm vậy là ép người quá đáng…nó cũng hỏng tin là có kho báu.

  - Mày đi nghe lời cái con khùng đó, nó biết gì.

  - Vợ tui là em ruột của ông, nó khùng thì ông cũng…

  Lão Ba đập bàn cái rầm.

  - Im.

  Lão nhìn hai thằng con.

  - Thằng khung đó không ham tiền, nhưng thiên hạ ham…họ đều là tai to mặt bự, họ đã hứa ủng hộ tao. Kế hoạch theo đó tiến hành, mọi chuyện còn lại, tao lo.

  - Ba, cho con hỏi một tiếng không?

  - Mày muốn hỏi chuyện gì?

  Thằng Văn đắn đo.

  - Hồi đó…ba đem trả giấy tờ, vì sao?

  Nghe hỏi lão Ba gằm mặt xuống tức tối, nhưng lão vẫn trả lời.

  - Hồi đó tao nhát, tao bị người ta hù…chớ gan chút nữa là xong rồi. Hồi xưa tao quen một, bây giờ tao quen mười, tụi bây yên tâm đi.

  Lời lão là sự thật, bây giờ khách hàng của lão toàn là đại gia, đại gia cá tra. Cá tra cái gì nó cũng ăn, đại gia cá tra chuyện gì mà không dám làm, bạn lão toàn là “Cá Mập”, xứ này lão còn sợ ai. Nghĩ vậy tự dưng lão thấy hưng phấn, cảm giác bất an hồi nãy biến liền. Xưa, thằng cha hù lão đã về hưu, mấy chục năm nay, lão thấy bên đó cũng không có động tịnh gì. “Ông Kẹ” như lời thằng cha về hưu nói đó là ai, lão chưa hề thấy. Nhớ lại mà tức, hồi đó thằng cha về hưu ăn của lão ngập mặt vậy mà ngậm cái gì của con nhỏ… trở mặt với lão cái một. 

*

  Tranh lên tường, ngày khai mạc triển lãm tranh của họa sĩ Tiểu Mộc chưa tới, nhưng các kênh truyền thông đã đưa tin rầm rộ. Khách mời là những họa sĩ, nhà phê bình tên tuổi trong nước. Thơ mời kèm theo một quyển Catalog in các tranh triển lãm, tranh in màu cực đẹp. Khách xa được ban tổ chức đài thọ tiền tàu xe, vé máy bay, thu xếp chỗ ăn nghĩ đàng hoàng. Sau khai mạc khách được mời dự tiệc tại khách sạn Continental, sảnh ngoài vườn Patio, tiệc chuẩn năm sao.  

  Event khai mạc tranh Tiểu Mộc là một công ty truyền thông tên tuổi, lễ tân là các hoa hậu, người mẫu đương thời, họa sĩ Tiểu Mộc là ai, tài năng như thế nào thiên hạ chưa biết, nhưng độ chịu chi, chịu chơi của Tiểu Mộc đã tạo nên một sự tò mò cực lớn.

  Sanny, cậu nàng là một tay chuyên nghiệp, tranh lên tường bố cục chặt chẻ không chê vào đâu được. Như một cặp tình nhân tò mò trước một sự kiện đồn thổi ầm ỉ, nàng cặp tay hắn dạo quanh phòng tranh trước ngày khai mạc. Tranh của hắn đa phần nàng đã nhìn qua, nàng kiểm tra xem bố cục, khung, nền, có chỉnh chu, có ngăn nắp hay không thôi. Ô! Nàng kéo tay hắn dừng trước một bức tranh, bức này nàng chưa thấy. Tranh vẽ một chàng trai đứng bên cái giếng, tay cầm gàu, vai quấn một cuộn dây…tên tranh “Giếng Quê”. Nàng sực nhớ một chuyện, mẹ Tiên từng nói với nàng, Ngọc Hương gì đó hồi xưa hắn quen chỉ là cái giếng cạn. Nhớ, nàng để ý chi tiết…khuôn mặt chàng trai ngẩng ngơ tiếc nuối, cuộn dây hờ hững trên vai thoạt nhìn bình thường, nhìn kỷ cuộn dây sống động như muốn trói buột chàng trai…mặt giếng cạn, gợn sóng…nhìn thoáng ẩn trong làn nước là khuôn mặt một cô gái…nhìn chăm chú, nàng nhận ra đó là một khuôn mặt đẹp, chi tiết hiện lên rỏ ràng… tranh của hắn lúc nào của có thần.    

                     Tưởng cái giếng sâu

                     Anh nối sợi gàu dài

                     Ai ngờ viếng cạn

                     Tiếc hoài sợi dây

  Nàng đọc cho hắn nghe rồi nhận xét.

  - Anh đặt tên bức này là Giếng cạn mới đúng.

  Hắn nhìn bức tranh đăm đăm, không trả lời.

  - Nghe em nói không?

  - Nghe.

  - Nghe sao không trả lời.

  - ……………………..

  Nàng hờn mát, ghen tuôn.

  - Giếng thì cạn nhưng khuôn mặt thì hiện rỏ nghen.

  - Giếng cạn, mặt mới hiện rỏ, giếng sâu sao thấy.

  Trả lời kiểu hắn, pó tay!

  - Hỏi thiệt nghen, biết người ta chỉ là cái giếng cạn, sao hồi đó khổ dữ ạ.

  - Anh không quan tâm cạn hay sâu, anh tôn trọng cái thật. Cạn hay sâu là do con người qui định, còn thật là cảm nhận của con tim. Lúc yêu anh là nàng thật…anh đau là vì nàng thật không dài, anh khổ là vì anh tiếc nuối.

  - Tiếc nuối cho ai, cho anh hay cho nàng?

  - Cho nàng…có thể anh lầm tưởng, anh sống là một đời thật. Anh thật để nuôi cảm xúc, để có cái tự hào về mình. Sống, người ta có thể lừa dối người khác nhưng không ai có thể lừa dối chính mình. Anh rất sợ khi phải tự khinh, vì lúc đó sẽ anh không còn sáng tác được nữa…với anh đó là địa ngục. 

  Mỗi lần nghe hắn tự thú, tim nàng nhói, đau, thổn thức và tràn ngập yêu thương.

  - Em đã hứa với mẹ…và em hứa với anh, dù có chết, em…anh cứ sống như anh đã từng sống.

  Hắn bóp chặt tay nàng, nhìn sâu sâu vào mắt nàng.

  - Tình yêu là một thứ tín ngưỡng, tin là có, không tin là không có.

  Nàng nắm chặt tay hắn.

  - Em tin!

*

  Lịch triển lãm 8h đón khách, 9h30 khai mạc. Tuy đã được nàng miêu tả, nói trước nhưng hắn vẫn bất ngờ. Nhìn pano, áp phích, và lực lượng lễ tân…những tà áo dài, những người đẹp, hắn choáng, nó hoành tráng ngoài sức tưởng của hắn. 

  Có lẽ thấy hắn ăn mặc lịch sự và đứng ngẩn ngơ trên lối đi, một cô gái bước tới hỏi.

  - Anh ơi, anh là khách tham quan hay là khách mời.

  Hắn quay nhìn, một khuôn mặt quen…quen đến độ làm tim phải rung lên.

  - Em đó à?

  Cô gái sựng lại một thoáng rồi thở ra.

  - Anh hả…anh lạ quá, em nhìn không ra.

  Lạ…thời gian đủ dài để người ta không nhận ra nhau. Xưa hắn để tóc bồng, nay đầu húi trọc, em còn nhận ra được hắn, là còn hên. Hắn cười.

  - Theo thời gian hình như em không thay đổi, vẫn xinh đẹp như ngày nào.

  - Anh quen với Tiểu Mộc?

  - Ừ…nghe hắn triển lãm, anh tới nhìn.

  - Anh có thơ mời không?

  - Bạn bè…nghe là tới thôi, cần gì mời.

  Ngọc Hương lộ vẻ đắn đo.

  - Lễ tổ chức trang trọng, để em xếp anh vào khách mời khuyết danh, ban tổ chức có dự phòng.

  - Thôi…làm vậy là phiền em.

  - Event này em làm, em có tư cách mời.

  Nàng đi xăm xăm từ trong ra, chốn đông người mà nàng coi như không, nàng câu tay anh.

  - Vào nhanh lên, có người muốn gặp anh.

  Tự nhiên nàng sựng lại.

  - Hai người biết nhau hả?

  Ngọc Hương nhìn hắn, nhìn nàng.

  - Anh là người quen của cô Gia Minh, sao hỏng nói…để em làm phiền, sorry.

  - Chị là Ngọc Hương đúng không? Em nghe Sanny nói Event này nhờ bên chị Hương nào đó làm, nãy giờ nhìn chị quen quen…em nhớ, chị là Ngọc Hương từng là hoa hậu Tây Đô.

  Thấy nàng quá thân mật với hắn, Ngọc Hương nhìn nhìn …rồi bừng tỉnh, thảng thốt

  - Anh …anh là họa sĩ Tiểu Mộc?

  Nàng cười.

  - Giới thiệu với chị, Tiểu Mộc, ông xã em.

  Sau lời giới thiệu, nàng lôi tuột hắn đi vào phía trong.

  - Trả lời thiệt nghen, vui hay buồn?

  - Vui.

  - Why?

  - Thấy Hương được như vậy anh mừng…nếu là anh, anh không cho Hương được như hiện tại.

  - Nghe nói được vậy cô ấy phải đánh đổi nhiều thứ…chắc không hạnh phúc gì.

  - Sống ai cũng phải đánh đổi, hạnh phúc tại tâm, người ngoài sao biết?

  - Đôi khi em thấy anh giống…giống như thiền sư…

  - Căn cơ anh có …

  Hắn lấy tay xoa xoa cái đầu trọc rồi nhìn nàng cười, pó tay với ổng luôn.

*

  Nàng không mời nhưng anh vẫn tới, anh tới với Ngọc. Khi bộ phận lễ tân báo tên có người tìm, nàng ra đón. Vừa gặp mặt, anh trách.

  - Sao không mời anh, em biết anh cũng mê tranh mà.

  Thấy anh đi với Ngọc nàng mừng. Cảm giác có lỗi trong nàng vơi đi…lúc trước anh yêu nàng, làm mọi việc vì nàng, còn nàng thì như con cá vàng lơ lững …nàng chưa yêu. Đùng cái…sau chuyến đi Đồng Tháp, vì hắn nàng lơ anh.

  - Em ngại…

  - Ngại anh không đủ tiền mua tranh của em chớ gì?

  Nàng cười hi hi.

  - Em triễn làm chớ em hỏng có bán.

  - Sợ bán hỏng ai mua hả? Đừng lo, xấu đẹp gì anh cũng mua, giá bao nhiêu không quan trọng, anh mở hàng.

  Nàng nhìn anh cười. Đó là điểm khác biệt của anh và hắn.

  - Anh xem đi thì biết, em không bán vì em tiếc…hihi…mời.

  Nàng bá vai Ngọc, thì thầm.

  - Ê mậy…mày thấy thần mộc linh không?

  - Vụ gì…hỏng nhớ nghen.

  Nàng thì thầm nhắc chuyện củ, chuyện hai đứa cầu nguyện dưới gốc cây Đa. Ngọc sững sờ.

  - Chúa ơi! Mày nhắc tao mới nhớ. Hồi đó mày quỳ nên ứng liền….

  - Mày cũng ứng rồi đó, thấy hai người tao nghi nghi…chúc mừng.

  Ngọc nắm tay nàng, giọng Ngọc chân tình.

  - Có dịp gần nhau, người ta mới hiểu hết về nhau…muốn hỏi một câu thấy kỳ, không hỏi thì lòng cứ ái ngái, sợ sau này mình không còn là bạn của nhau.

  - Gì vậy bà, tự nhiên ủy mị thấy sợ, hỏi gì nói đi

  - Tao hỏng có tiếp xúc nhiều, tao hỏng biết…cái ông chăn trâu đó, đáng không?

  - Xưa tao hỏng tin, giờ tao tin….người ta yêu và có thể chết vì yêu.

  Ngọc cười.

  - Mày ghê thiệt…bị dụ quên cả lối về.

  - Mày sai…hắn mới là người bị tao dụ, hihi…bây giờ nói đi, sao hồi nãy ủy mị dữ vậy.

  - “Cái gì của Caesar, trả về cho Caesar”, tao sợ mày bồng bột…khi tỉnh mày trách tao…tao muốn mình mãi mãi là bạn.

  Nàng vỗ vai Ngọc.

  - Mày mãi mãi là bạn tốt…với tao, hắn chính là Caesar.

*

  Mẹ Tiên đến dự, mẹ đi với một người đàn ông lạ. Ông ta ăn mặc đơn giản nhưng sang trọng, người có thần, dáng có uy. Không cần giới thiệu, thoạt nhìn biết ông là người có địa vị trong xã hội. Mẹ Tiên giới thiệu.

  - Đông Phúc, con trai em, Gia Minh, bạn gái của nó…còn đây là…là cậu Đông, bạn mẹ.

  Ông bắt tay nàng.

  - Hân hạnh được biết con.

  Khi ông bắt tay hắn.

  - Chúc mừng con.

  Thoạt đầu nàng còn nghi nghi, khi mẹ giới thiệu tên nàng biết ngay là ông ấy…một lần trò chuyện mẹ, nàng kể chuyện hắn giải thích tên Đông Phúc nghĩa là mặt trời, mẹ cười: “Nó chỉ nói đúng một nữa, Đông là tên ông ấy”.

  Hắn bắt tay ông Đông.

  - Hân hạnh được biết cậu, mẹ không nói nhưng con biết cậu là ai.

  - Vậy cậu là ai?

  - Cậu Đông, tên cậu làm nền cho tên Phúc của con.

  Nàng và mẹ nhìn nhau, bằng ánh mắt cả hai ngầm hiểu. Ba mẹ nàng cũng có mặt, nàng giới thiệu và xếp họ ngồi cạnh nhau, đây cũng là dịp để người lớn gặp nhau, trò chuyện.

  Bất kỳ buổi ra mắt tác phẩm nào, có hợp báo và tác giả trả lời.  

  - Vì sao bút danh là Tiểu Mộc, có căn cơ gì không?

  - Tranh của tôi đa phần là phong cảnh và mộc là một phần không thể thiếu trong tranh phong cảnh. Nói về căn cơ thì…quê tôi có một ngôi chùa, có ông Sư Mộc, có một thời tôi không còn là tôi, Sư Mộc đã cảm hóa và khơi gợi trong tôi một nguồn sinh lực mới, tôi sống và có ngày hôm nay.

  - Một thời tôi không là tôi của bạn là gì… ma túy, đỏ đen hay vì tình?

  - Cái này bạn tự tìm hiểu đi.

  - Bạn triển lãm tranh, khai mạc hoàng tráng nhưng toàn bộ tranh không đề giá, không bán.

  Hắn cười nhìn nàng.

  - Vẽ là tôi, còn tranh là của nàng, bán, cho, tặng là chuyện của nàng.

  - Ồ…bạn có thể cho một lời giải thích không?

  - Khi bạn yêu ai đó hơn cả sinh mạng của mình…bạn sẽ hiểu…

  Một lần nữa…hắn làm nàng bật khóc…

*

  Sư Mộc nhắc tin cho hắn: “ Con thiếu tiền sao không nói Sư biết, đào cái lạch cạn, tổn thiên địa là hủy căn cơ, mô phật”. Tin của Sư viết đơn giản, nhưng ẩn chứa chuyện động trời. Lạch cạn, chuyện chỉ có lão Ba.

  Cảnh hoang tàn hiện ra, đầu cái lạch cạn bị hai cái máy cuốc móc thành hầm, bờ đất nơi cây đa bao nhiêu lâu đứng sừng sững bị sạt một mảng lớn, đất xung quanh cây đa lỏm xuống, cây nghiêng trốc gốc chênh vênh như sắp ngã. Bước xuống xe, nhìn thấy cái cây đa nghiêng, hắn chết sững. Không chỉ hắn, một người nữa cũng đang đứng im lìm bên cội đa già, hai tay chắp trước ngực như cầu nguyện.

  - Sư, con đã về, con không làm chuyện này.

  Sư Mộc mở mắt nhìn hắn.

  - Ta cũng không tin, như lão Ba có hợp đồng thuê đất do con kí, thuê mười năm, nhận ba tỷ.

  Hắn tức tối.

  - Lão lại bài chiêu củ, ỷ thế hiếp người.

  Người ác ở trong thế mạnh, khi dồn kẻ yếu vào góc họ thích vờn. Lão Ba cũng là thứ như vậy, hay tin hắn tức tốc từ Sài Gòn về, lão cũng tức tốc mò đến.

  - Cậu mới về hả, nghe nói cậu triển lãm tranh gì đó thành công dữ dội lắm, giờ cậu thành người nổi tiếng rồi, chúc mừng, chúc mừng.

  Hắn giận dữ.

  - Ông ..ông ngang ngược quá, tôi cho ông thuê đất hồi nào, ông đào bới như vậy là ảnh hưởng tới căn cơ….ông nhìn đi, cây đa bị ngã rồi kìa.

  - Cậu lạ nghen, khi cần tiền thì cậu ngon ngọt, giờ cậu nói ngược là sao. Cậu không cho thuê sao tui dám làm…căn cơ gì, nó chỉ là cái cây thôi, già rồi cũng phải chết chớ.

  Hắn gào lên.

  - Tôi ký với ông hồi nào, ông là thứ lọc lừa, chuyên làm đồ giả, gạt người.

  Lão xìa ra cái hợp đồng.

  - Chứng cớ rành rành đây mà giả, cậu coi đi, họp đồng được công chứng đàng hoàng.

  Hắn chết sững, chữ ký giả mà y như thiệt.

  - Cậu nói tui làm giả, cậu có quyền kiện, tui hầu. Thời bây giờ sống là tuân thủ theo pháp luật, cậu không thể nói ngược nói xuôi vậy được.

  - Ông có tin là đời còn có lẽ phải không? Ông cưỡng từ đoạt lý, ức hiếp kẻ thế cô, cái đó hỏng có tồn tại đâu…cây đa tuy nghiêng, lư hương còn đó, ông dám bước tới đó thề với tui hông?

  - Đời bây giờ mà còn tin thề thốt, …thích cậu cứ kiện, kiện để họ xác minh…ha ha ha…chống với tui, cậu chỉ có đường chết.

  Một cảm giác tuyệt vọng ùa vào trong hắn, cuốn hết sức sống làm hắn rủ xuống thảm não…vờn được hắn như vậy lão cười thỏa mãn. Từng chút, từng chút vầy vò bóp nát đối thủ trong tay…với một số người, đó cũng là một thứ hạnh phúc. Lão nghênh ngang bước đi, những sảy chân khoái trá của kẻ thắng… 

  Suốt từ đấu, nàng im lìm đứng bên cạnh hắn, nhìm ngắm lão Ba, quan sát lão từng ly từng tí. Khi lão bước đi, nàng gọi.

  - Ông…ông gì…lão Ba…

  Thoạt đầu nàng lúng túng nhưng khi gọi đúng từ giọng nàng dõng dạc.

  - Lão Ba.

  Hỏng hiểu sao, nghe giọng con nhỏ lão chột dạ. Con nhỏ chỉ tay lên trời.

  - Ông nhìn lên đi.

  Lão nhìn con nhỏ mặt lộ vẻ nghi ngờ….con nhỏ chỉ tay lên trời rồi lập lại rất dứt khoát.

  - Ông nhìn lên đi, ngước mặt lên đi.

  Lão chột dạ…và ngước mặt nhìn lên…chẳng có gì ngoài trời trong mây trắng.

  - Ông có tin là Trời có mắt không?

  Sư Mộc lim dim như thiền định, nghe nàng nói, người mở mắt nhìn.

  Không kìm được lão xà ra cười, hai đứa này đúng là một cặp “Trời sinh”, thằng khùng gặp phải con điên, ha ha…lão nhún vai bỏ đi. Lão già như cáo thành tinh, bấy lâu nay lão luôn có dự cảm bất an khi nhắc tới con nhỏ, giờ đối diện trực tiếp lão mới biết mình lầm, người ta nói già thường hay lú lẫn là vậy, ha ha…  

  - Lại đây, ta chỉ cho hai con thấy cái này.

  Cây bật gốc, chỗ thân to nhứt, thân chính nơi đặt cái lư hương đất hở ra, rể bung lên, lòi ra ngoài. Sư cầm một nhánh cây cào cào đất…ẩn trong đất là một ổ mối to, mối bò lúc nhúc.

  - Kinh phật có câu, trong họa có phúc, cây không nghiêng ngã, sao biết mối mọt bên trong. 

  Hắn thẩn thờ.

  - Sư ơi, con phải làm sao, …ngày mai, ngày mai con sẽ đi kiện…lão không thể ngang ngược như vậy được. 

  Nàng vỗ vai hắn.

  - Chuyện trước mắt mình lo cái cây đi, lão dám thách anh như vậy, lão đã chuẩn bị rồi.

  - Anh biết, kiện là không thắng nhưng anh phải kiện, phải chứng minh cho Sư biết, anh không làm chuyện này.

  Sư Mộc chấp tay.

  - Mô phật! Ta sống tới từng tuổi này vậy mà tâm cũng nhiễm, khi ta nghi ngờ con là tâm ta bị cuốn vào thất tình lục dục.

  Sư nhìn nàng.

  - Con nói đúng, Trời còn có mắt.

  Sư đặt tay lên vai hắn.

  - Có sanh ắt có diệt, có nghiệp ắc có duyên, trời đất bao la, vũ trụ huyền bí, trong cỏi u u minh minh tạo hóa luôn có một sự sắp đặt…hồi nào giờ con sống sao, cứ sống y vậy, đừng bận tâm. “Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai”, mô phật!

  Nàng chắp tay với Sư.

  - Chuyện cái cây con lo được. Con có quen với mấy người làm bên cây xanh, họ bán và di chuyển đại thụ khắp cả nước, họ rất chuyên nghiệp. Mai họ xuống, họ xử lý ổ mối, dựng lại cây đa. Sư hãy tin ở con, mô phật.

  Đêm xuống, bọn họ ngồi bên nhau dưới cội đa già, cội đa đang oằn mình chênh vênh dưới bóng trăng lạnh lẻo. Giọng Sư Mộc trầm nhẹ như cơn gió.

  - Ta lấy pháp danh Mộc là vì nó và nó chính là ta. Khi ta gặp Cụ Đầm, người đã vượt bách niên, ta là gã sư trẻ khất thực lạc lối, bệnh, đói, nằm lã chờ chết dưới gốc đa. Cụ Đầm cho ta một mạng sống, dựng một cái lều dưới gốc đa cho ta thiền định. Sư Mộc, Chùa Đa sinh ra là từ đó. Cây Đa là khởi thủy của dòng họ nhà con, thịnh suy là do các con quyết định…

*

Trời quả nhiên có mắt, hai chiếc xe cuốc của lão đang thi công, “Bụp” “Bụp” gần như cùng lúc cả hai đều bị bể bọng, lý do máy hết nhớt.  Hai thằng con lão ù ù cạc cạc nghĩ đó là tai nạn, là bất cẩn không thăm chừng nhớt máy, còn lão thì gầm lên.

  - Đó là phá hoại.

  Lão báo công an, họ khám và làm cả buổi, kết luận hỏng hóc là do kỷ thuật, không có dấu hiệu phá hoại. Ngày sau, thằng Hồng con lão đi huyện, nhậu, bị thiên hạ kiếm chuyện đánh gãy giò, phải chuyển lên trung tâm chỉnh hình sắp xương. Lão xuống huyện, đích thân nhờ người quen, phải túm cổ cái bọn đánh con lão coi sau lưng nó là ai. Công an làm việc cật lực, kết luận bọn đánh con lão không phải người địa phương, sau đêm đó họ biến mất, giống như họ chưa từng xuất hiện. Thằng Hồng bị đánh, thằng Văn dẫn vợ con về bên nó rồi ở biệt, kêu không qua. Chẳng những không qua, nhà cửa đất cát tạo dựng bên vợ,  nó kêu bán.   

  Ai….lão biết mình bị chơi, nhưng kẻ đó là ai. Thằng khùng và con điên là đối tượng đáng nghi nhứt, nhưng lão không tin, lũ ranh con đó chưa đủ bản lĩnh.

  Đùng một cái, tất cả những đại gia cá tra đều rút lui, họ đồng loạt trả hầm không thuê. Cá đang nuôi dù chưa đủ kí, thậm kí cá vừa thả họ cũng gạn lên di dời. Như một thằng điên, lão gào lên.

  - Vì sao, vì sao….

  Tất cả đều trả lời một câu giống nhau.

  - Đất hầm của lão bị nhiễm, nuôi cá là cá chết.

  Lão từng trãi, lão biết, các đại gia cá tra đâu phải thứ hiền từ gì, vậy mà họ âm thầm lui binh lặng lẽ một cách đáng sợ, ai??? Lão cầu cứu “chiến hữu”, những tay to mặt bự từng ăn nhậu, từng nhận của lão ngập mặt, giờ gặp lão là họ tránh. Thương lão lắm, một tay thì thào: “ Ông đá phải thiết bản rồi, tự lo đi.” 

  Càng nghĩ, lão càng điên tiết…cơ nghiệp gần trăm năm gầy dựng, sụp đỗ trong vài ngày, như con bạc thua cháy túi, lão điên lên…lão đi Sài Gòn, qua mối tìm gặp một tay anh chị người Hải Phòng, chi một tỷ, xong…ba ngày sau, tay anh chị gặp lão.

  - Tôi nói thiệt, ông ở sát vách sao ông ngu dữ vậy…Tôi là người lạ, tôi vừa đặt chân tới đây là họ biết tôi là ai, làm gì, họ điểm cái mặt tôi cảnh cáo. Họ lệnh cho tôi biến, biến và không cho tôi trả tiền cho ông...nói cho ông biết tôi đâu phải thứ hiền, nhưng với họ, tôi chỉ là con muỗi, “bẹp” cái là xong, ông tự lo đi…

  Lão suy sụp…nằm liệt trong nhà….

  Cái lạch cạn mới đào một đoạn, lão thuê người san lắp trả lại hiện trạng.

  Thằng Hồng xuất viện, như lão nó trốn biệt trong nhà không dám ra đường.

  Cây Đa được xử lý… xanh tươi, sừng sững.

  Mùa lũ về con lạch cạn thành dòng sông đầy ấp.

  Hắn đứng dưới cây Đa, nhìn dòng sông, lắng nghe tiếng chuông chùa…rồi nhìn nàng.

  - Lẽ nào Trời có mắt?

  Nàng nép vào vai hắn, hiền thục.

  - Đó cũng là một thứ tín ngường, tin là có, không tin là không có.

 

19.8.2019

N.P.T

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KIM THẮM

 

GIÓ THỔI SAU HÈ

 

Khi ba má bỏ nhau, tôi chuyển về quê nội học thì quen biết Yến Em, đó là vào năm lớp bốn. Trong giờ học môn kể chuyện thì Yến Em bị kinh phong giựt, thầy chủ nhiệm cõng nó về nhà, nó nằm quặt quẹo trên lưng thầy, mái tóc tơ non bay phất phơ trong gió. Kì đó Yến Em nghỉ học hết một tuần. Lần thứ hai cách đó vài tháng nó lại bị giựt, lần này thì té vô viên đá xanh kê chân cột ở trường, bể cả trán...Vậy là nó nghỉ luôn, không đi học nữa...

Người ta nói má nó chửa hoang, không muốn sinh ra nó nên đào rễ cây cau nấu nướcuống, mong tống nó đi. Cơ khổ, nó hổng chịu ra mà quyết tâm ở lại thế gian này, nên đeo bám đến lúc chào đời...Hèn chi mà tôi thấy Yến Em hơi ngộ...Mặt nó khác với mọi người, không hẳn là như thằng Út khùng ở xóm bên, nhưng hơi ngây ngô với một bên mắt sụp mí, cái miệng trề và cái tật hay cười. Có khi vui, nó cười hoài không ngưng được, cười mà nước mắt chảy ra ràn rụa.

Thật tình thì ở xóm tôi rất ít đứa chơi với Yến Em, kể cả khi nó còn đi học chứ đừng nói chi đến khi đã nghỉ, chắc có lẽ do Yến Em khờ khờ lại còn chậm chạp. Có đứa thì ba má cấm chơi, phần thì sợ xui, phần thì sợ lây cái bệnh khùng ( trời, khùng mà cũng có lây nữa...). Riêng tôi thì rất khoái chơi với Yến Em vì nó hiền, chơi với nó tôi có cảm giác vui vì hầu như tôi luôn thắng nó và chắc chắn là tôi dòm...được gái hơn nó. Một điều rất đặc biệt, mà tôi nghĩ là điểm yếu của Yến Em là nó rất sợ người đối diện buồn. Mọi người nói nó đơ, riêng tôi không thấy vậy, tôi thấy Yến Em rất nhạy cảm, chỉ cần nhìn mặt tôi là nó biết tôi không vừa ý, nó luôn tìm cách làm hài lòng tôi với nụ cười rất hiền, đôi khi nó cười như mếu. Câu nói cửa miệng, mà tôi nghĩ cũng xuất phát tận đáy lòng của nó là: “Tui...sao cũng được”.

Nội tôi rất thích Yến Em vì nó siêng năng, tuy mới hơn mười tuổi nhưng rất giỏi việc nhà, tới nhà ai chơi nó cũng rất nhiệt tình, chuyện gì cũng mần, ăn gì cũng được. Nó mần mọi thứ như ở nhà mình, quét nhà, chẻ củi, xách nước, cho heo ăn, chùi nồi...Nó làm một cách say sưa, mà tôi thường nói là làm...bán mạng, làm tới tối mịt cũng chưa chịu về, mà có lợi lộc gì cho nó đâu, làm không công, ở quê người ta nói là làm... chùa. Làm xong rồi nó thường ngắm nhìn sản phẩm của mình một cách đầy mãn nguyện.

Yến Em lớn hơn tôi hai tuổi, nó tuổi mèo còn tôi tuổi tỵ. Nó được sinh ra ngay ngày giải phóng, khi tôi lên mười thì nó đã mười hai. Tuy nhỏ hơn nhưng do học chung và lanh lẹ nên tôi tự cho phép mình không kêu Yến Em bằng chị. Nội rầy, nói tôi nhỏ hơn mà xưng hô như vậy là không biết chuyện, tôi cười hè hè rồi trả trêu với nội: “ Xời, nó khờ gần chết, ai mà thèm kêu nó chị. Con hông bắt nó kêu con bằng chị là may. Nó chịu vậy mà, nó sao cũng được. Con chịu chơi với nó là hên cho nó lắm...”. Nhớ hồi nó còn đi học, có bữa đang nhảy dây, hồi đó có gì đâu mà chơi ngoài nhảy dây, đánh tổng, hát cải lương và chơi bán tiệm... Mấy đứa nhìn thấy đít Yến Em có dính gì đỏ đỏ. Tụi nó nói nhau chắc là bị mụt ghẻ, do nhảy trúng dây nên bị tróc mài chảy máu...Sau này lớn rồi nhớ lại, tôi mới biết lúc đó thì ra là nó có tháng mà hổng biết...

Nội tôi nói Yến Em không phải người miền Tây, nó gốc ở Lâm Đồng, má và ngoại nó đem theo nó bỏ xứ về đây lập nghiệp. Nhà Yến Em cách nhà nội tôi ở chừng non nửa cây số, chỉ có cái nền nhà và một khoảng sân nhỏ xíu chứ không có vườn nhiều như của nội tôi. Má Yến Em làm nghề mua mít sống tại vườn, đem về giú chín rồi đưa xuống đò qua Mỹ Tho bán lại kiếm lời. Còn ngoại nó thì làm mụ. Hồi đó, những năm tám bảy tám tám của thế kỷ trước, khi tôi còn học cấp một, chưa có đường dal, chưa có điện, cái trạm xá thì nhỏ xíu lợp bằng lá dừa... Ở vùng quê này, trong chuyến vượt cạn của mấy người đàn bà thì bà mụ vườn cũng cực kì quan trọng.

Hình như khi nghỉ học, Yến Em hơi buồn, xóm này hầu như nó chỉ chơi với mỗi mình tôi. Trưa nào nó cũng ngồi trước cửa mà dòm ra lộ, đợi tôi tan học về đi bộ ngang là nó chạy theo, mà đâu phải lúc nào tôi cũng rảnh. Hồi đó, tôi không học thêm hay tăng tiết gì như bây giờ, chỉ học một buổi ở trường nhưng cũng mắc học bài và làm công chuyện nhà lặt vặt tiếp thêm cho nội...Những lúc đó nó luôn kiên nhẫn đợi tôi, đợi một cách rất thông minh và độ lượng. Khi tôi học bài thì nó phụ nội tôi làm công chuyện trước, nó nói làm vậy để chút tôi học bài xong là chơi với nó liền đỡ tốn thời gian. Trò chơi mà tôi với nó cùng thích là chơi bán tiệm. Lựa chỗ nào sau hè có bóng cây và nhiều gió mát, cắt vài tàu lá chuối tươi lót xuống đất vừa đủ chỗ ngồi và chỗ để đồ. Đồ bán là bưởi non, dừa non rụng ngoài vườn. Râu bắp thì giả làm thuốc rê, cọng lục bình giả làm bánh mì. Bông vạn thọ làm thịt chà bông còn bông mười giờ vò cho ra nước đỏ làm nước chan vô...Cái gáo dừa thành giá cân, cán cân là cây củi nhỏ, còn dái cân là trái ổi non xỏ cọng dây chuối. Tiền xài đã luôn vì làm bằng lá mít. Lá mít vàng có giá cao hơn lá mít xanh...Bán tiệm phải có người bán kẻ mua. Chúng tôi đổi nhau qua lại nhưng lúc nào tôi cũng là người bán trước, vì bán mới thú vị, được cân, đươc thối tiền, còn mua thì cứ cầm tiền mà đưa rồi nhận đồ, không thấy đã...Lúc Yến Em mua thì nó mua từ từ, mỗi món vài trăm cà ram, tôi tha hồ mà cân mà bán. Còn tới lượt tôi mua, để cho nhanh, tôi mua một cái vèo, mỗi lần... một ký. Đồ hết cấp kỳ. Nó ngơ ngác rồi cười hì hì “ trời sao tui bán mau hết quá vậy?”. Nó không nghĩ là do tôi mánh, mua nhanh, mà do nó bán mau hết. Thiệt, khờ hết nói nổi...

Khi tôi lên học cấp hai thì Yến Em lớn bộn. Nội tôi nói nó trổ mã rồi. Mà thiệt, tôi dòm thấy nó khác hồi đó dữ lắm. Tóc nó bớt quăn, ngực nó đội cao lên dưới lần áo mỏng, hai gò má thì thỉnh thoảng hường lên. Có bữa, nó xuống nhà tôi, xin dầu dừa của nội, rủ tôi bôi lên tóc cho mượt, để một hồi rồi đi xuống sông gội lại. Động trời hơn, nó còn lấy cây dao nhíp, ra vườn ngồi lên cái võng giăng ngoài cây mận, kêu tôi nhổ lông nách cho nó. Tôi la nhổ đau chịu đời sao thấu. Nó cười nói hổng đau. Tôi hỏi bắt chước ai mà bày đặt bày điều như vậy, nó biểu lo nhổ dùm đi chứ đừng có hỏi. Sau này, khi học cấp ba được ra trường huyện, tôi đã nhín chút tiền mua cây nhíp làm quà tặng nó. Nói là tặng nó chứ thiệt ra hai đứa...xài chung.

Mùa hè những năm đó thiệt là vui. Cứ sáng sớm là Yến Em đi xuống nhà nội rủ tôi đi xé lá chuối khô. Khi mặt trời chưa lên, do có sương đêm nên lá còn rất dẻo, xé không bị rách. Xé để vô thúng, đem về xếp thành ốp nhỏ, bán cho người ta để gói đồ, hồi đó đâu có bịch nilon như bây giờ, cái gì cũng gói bằng lá chuối. Mấy trái ớt chín túm trong lá chuối xanh hái sau vườn cũng được để dành. Vài bó sả chặt ngoài bờ ranh, mấy trái chanh giấy cuối mùa còn sót cũng được hai đứa tôi hái mót...Có khi cả mấy trái sầu riêng lụm dưới mé mương nhà ông hàng xóm. Tất cả được gom lại trong một cái bội tre để dưới mé sông, chờ ghe từ Mỹ Tho qua mua đồ vườn nội là hai đứa tôi bán ké. Số tiền đó luôn là niềm vui bất tận của chúng tôi. Yến em nói chia cho tôi nhiều hơn vì tôi đi học sẽ cần tiền để mua tập sách, còn nó đâu cần xài gì nhiều. Mọi người thường chê nó khờ, nhưng sao với tôi dù nó có khờ nhưng nó luôn ...vĩ đại, lúc nào cũng biết nghĩ trước sau, biết sợ người khác buồn. Nhưng mà tôi đâu chịu vậy, dù cho hằng ngày tôi có chơi gác nó, nhưng thật tình trong chuyện làm lặt vặt để kiếm tiền nó giỏi hơn tôi, nên tôi quyết chia đều. Sau này lớn lên, khi trôi dạt giữa cuộc đời đầy nắng gió, ngụp lặn trong cái mặn chát của thế thái nhân tình, nhớ tới tấm lòng chân thật ngày đó của Yến Em, tôi thường trào nước mắt...

Hình như là hai phần ba thời gian của yến Em là ở nhà tôi. Nội tôi nuôi heo nái nên chiều nào tôi cũng đi cắt rau trai rau diệu về nấu cho heo ăn. Nhà Yến em có một con heo duy nhất vậy mà nó cũng theo tôi suốt. Chủ yếu là nó kiếm rau giúp tôi, lúc về thì lựa vài đọt rau thiệt là non đem về cho con heo của nó. Có khi đi tìm rau ở mấy bờ mẫu thiệt xa, cách nhà bốn năm cây số, bận về trời mưa tầm tã, hai đứa đụt mưa trong ruộng bắp, bẻ trộm vài trái bắp tươi xanh giấu trong bao rau, đem về lúc nấu tấm heo lấy ra nướng rồi vừa cạp vừa cười khúc khích...

Mấy lúc nước cạn, đám con gái trong xóm thường rủ nhau ra sông Xáng mò hến, tôi với Yến Em cũng tham gia. Tôi mò rất dở, nhưng nó nói cứ để hến chung, chừng nào về hai đứa chia đôi, mò đến lúc nước lên cao tới lưng quần thì hú nhau về. Vì Yến Em bị bệnh kinh phong như vậy nên nội tôi thường dặn ra chỗ nước nôi phải coi chừng nó kỹ. Khi lên bờ, quần áo ướt dính sát vào người, gió tới lạnh thấu xương, đứa nào cũng lom khom co rúm, đi như chạy riết về nhà. Tôi để ý thấy mấy người đàn ông xóm dưới dòm tụi tôi, nhứt là Yến Em rất là kỳ cục...Dọc đường về có mấy bụi rau bồ ngót mọc tốt um tùm, mạnh đứa nào nấy bẻ, đem về lo cho nồi canh hến.

Vui nhứt là mấy bữa thứ bảy đi coi cải lương ở nhà ông Năm xóm dưới vì nguyên cái xóm của tôi không ai có ti vi. Chiều, ăn cơm xong là Yến Em xuống nhà tôi ngồi đợi. Sụp tối, tôi với nó đi bộ cầm theo bó đuốc lá dừa, gần tới nhà ông Năm thì giấu bó đuốc vào trong hàng rào bông bụp, để ý chỗ nào đặng lúc ra về lấy ra mồi lửa. Có bữa, đang coi thì hết bình, màn hình cái ti vi teo lại còn nhỏ xíu như lòng bàn tay mà cũng ráng ngồi coi, tới chừng tắt cái phụp tối thui mới chịu ra về. Dọc đường Yến Em cằn nhằn “ đang tới khúc mùi mẫn cái hết bình, thiệt là lãng xẹt”. Tôi cười thụt cùi chỏ vô hông nó “ xời, coi tuồng đó cả chục lần mà làm như mới, lần nào coi cũng nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, còn ca theo nữa...Anh đang cúi đầu chờ ân huệ, em rộng lòng tha thứ cho anh...(*), thiệt, hổng biết mắc cỡ...”, nó chỉ biết cười trừ “ ừ, kệ tui”. Về tới nhà tôi trước rồi Yến Em phải đi tiếp một mình chừng thêm năm trăm thước thì mới tới nhà nó. Có khi nó nói làm biếng về nhà quá, thôi quẹo luôn vô nhà tôi ngủ. Tôi biểu sợ má với ngoại nó trông, nó cười hì hì nói ai thèm trông nó. Ngoại nó thì người ta đón đi đỡ đẻ mấy bữa nay hổng có về nhà, còn má nó lúc rày ưa có khách là chú gì đó bạn hàng mua mít như má nó, có khi chú ghé và ngủ lại ban đêm. Chiều này, khi nó chuẩn bị đi xuống nhà tôi thì chú đó cũng vừa mới ghé. Vậy là tôi với nó trải chiếu giăng mùng trước thềm ba, nằm nói chuyện trên trời dưới đất. Nó thường ngủ trước tôi, chắc có lẽ nó chẳng suy nghĩ gì nhiều, không cần phải nhớ đến cách giải một bài toán nào, cách cân bằng mấy phương trình hoá học hay là xuất xứ của một bài thơ... Ừ, mà tôi, dù còn đi học cũng có thèm nhớ tới mấy thứ đó đâu. Những lúc như vầy, tôi thường nằm quay mặt ra bờ kinh, dòm bóng trăng rung rinh xuyên qua mấy tàu dừa nước nếu gặp nhằm mấy đêm rằm, hoặc nằm im nghe tiếng lụp cụp dưới xuồng câu tôm của mấy anh hàng xóm. Có khi trong giấc ngủ chập chờn, tôi thấy mình đứng thiệt gần một người đàn ông có vòm ngực trần vạm vỡ thì giật mình chới với, nghe tiếng tim mình đập thình thình như tiếng chày quết chuối hồi chiều...kì cục thiệt.

Năm chín mươi hai, tôi ra trường huyện học cấp ba cách nhà đúng mười bảy cây số, ngày đi về hai bận là ba mươi bốn cây bằng chiếc xe đạp cà tàng. Có người bà con xa của nội ngoài đó nhưng vì nhà quá đơn chiết nên tôi cố gắng đi về. Tới đợt mưa, đường sình nhiều quá thì tôi ở lại đến cuối tuần. Cả xã tôi còn có hai người đi học là tôi với Dũng. Do tôi bận rộn nhiều, cứ năm giờ sáng dậy đi, có khi buổi chiều còn lao động nữa nên tối mịt mới về tới nhà, không còn ngày nào cũng gặp Yến Em như hồi đó. Một bữa chủ nhật, tôi đang ngồi xắt chuối cây chuẩn bị quết cho heo ăn, cũng có ý ngóng đợi Yến Em thì nhỏ Út hàng xóm chừng bảy tuổi qua xin khế. Hái xong rồi nó đứng chần chừ hổng chịu về, hơi lâu rồi khều tôi nói nhỏ. Út nói tuần rồi bên nhà ông Ba Mềm đám giỗ, hôm đó tôi đi học. Lúc mọi người đang bận rộn dưới bếp mần gà vịt ( quê tôi đám tiệc chỉ có đàn bà làm gà vịt còn đàn ông luôn ở nhà trên uống nước trà và ...bàn chuyện đại sự), Út với mấy đứa con nít chạy vòng vòng sau hè chơi thì thấy Yến Em đang ở trong chòi chứa củi, nửa nằm nửa ngồi trên cái vạt tre, hai chân thòng xuống đất, cái quần tuột xuống tới đầu gối. Còn kế bên ông Ba Mềm đang đứng, không biết làm gì mà...cái kia tổ chảng. Tôi nghe mà đầu óc u u, lờ mờ không hiểu rõ. Hồi đó đâu có phương tiện truyền thông như bây giờ, mà tôi cũng hổng nghe ai nói, cũng đâu hiểu gì nhiều về giáo dục giới tính, càng không dám hỏi ai...Chỉ biết sơ sơ về chuyện gái trai thông qua mấy cuốn sách cũ có khi là tiểu thuyết mà tôi mướn đọc ngoài chợ huyện. Tôi bụm miệng con Út, biểu nó đừng đem chuyện này kể với ai...Chiều đó, lúc trời sâm sẩm tối, tôi đang ngồi đốt vỏ dừa un muỗi cho mấy con heo ở ngoài vườn thì Yến Em đi tới. Nó hù tôi từ phía sau lưng, tôi biết mà giả bộ giựt mình một cái cồng cho nó được vui. Yến em xách theo mấy củ khoai lang để lên than nướng, nó còn lấy vỏ quýt nội tôi phơi liệng vô lửa đốt cho thơm. Hằng ngày tôi đi học, nó xuống chơi với nội tôi, riết nó rành nhà tôi còn hơn tôi nữa. Nó móc trong túi áo ra mấy trái nổ (**) khô, bắt tôi hả họng ra rồi thảy vô ngậm miệng lại, một hồi, có nước miếng, mấy trái này nổ tách tách trong miệng, tôi hết hồn nhảy dựng lên, nổi hết da gà, nó cười như nắc nẻ. Yến em khoe với tôi có chiếc vòng đeo tay mới bằng vàng thiệt. Tôi ừ. Chuyện này thì tôi nghe nội kể rồi, nó quyết liệt đòi đeo vàng cho đẹp, vì không đủ tiền nên má nó mới mua vàng giả mà nói xạo là thiệt cho nó được mừng. Tôi dòm nó hoài. Tôi thấy lúc rày nó có vẻ mập hơn, hay nói, hay cười, hai gò má hồng lên dưới ánh lửa. Tôi chợt nhớ tới lời nhỏ Út...Mà thôi, tôi cũng hổng biết nói gì, bắt đầu từ đâu bây giờ. Tối đó Yến Em ngủ lại nhà tôi. Nó còn khoe thêm cỡ rày nội tôi chỉ cho nó nuôi gà, ấp gà con bán có lời. Nó nói chủ nhật tuần sau nó sẽ thăm mấy ổ gà, cho trứng gà lội nước, nếu có hột vữa sẽ luộc đãi tôi ăn. Yến em nói có người hỏi mua mấy chậu mười giờ trồng trong gáo dừa của nó đem về thành phố treo trên sân thượng, nó sẽ gây giống trồng thêm. Nó nói rất mừng vì có chút tiền, đàn bà nhứt định phải làm ra tiền mới được, dù là ít ỏi. Tối đó nó còn rờ ngực tôi, nói tôi sướng vì ngực vừa mới đẹp, nó khổ vì ngực quá lớn, ở chợ xã không có bán cỡ áo ngực này. Tôi hứa khi nào rảnh sẽ chở nó ra chợ huyện bằng xe đạp để nó tha hồ lựa áo, mà nếu sụm xe tôi do nó nặng thì nó phải đền vì cái xe hiện giờ là phương tiện di chuyển duy nhất của tôi. Vì cái ý tưởng này mà tôi bị nó bóp thêm mấy cái. Nó nói tôi sao dở, bị con gái rờ mà cũng nổi da gà...Yến Em còn nói tôi được đi học, được đọc sách nhiều nên thiệt có lời ăn tiếng nói, còn nó hổng biết nói năng gì hết. Nó còn khẳng định như đinh đóng cột là chỉ có đàn ông mới biết nói chuyện ngọt ngào, còn đàn bà, trừ tôi với bà nội tôi ra thì tất cả đều đáng ghét. Nó mà lợi gần má với ngoại nó thì nếu hỏng bị nạt bị chửi thì cũng bị táng, bị ăn cú mà thôi. Vì vậy bây giờ nó chỉ thấy thích đàn ông...Càng nghe nó nói tôi càng thêm chột dạ. Tôi nhớ là trong cơn buồn ngủ mơ màng tôi dặn nó đừng lợi gần đàn ông quá, nguy hiểm lắm, nhứt là đàn ông lạ. Nó cười hì hì ghị sát tôi vào người nó “ có gì đâu mà nguy hiểm”. Nó còn nói lúc rày nhà nó có thêm thành viên mới, người đàn ông bạn hàng mít dạo nào giờ trở thành ba dượng của nó rồi...

Khi tôi học lớp mười một thì Yến Em lại bị giựt kinh phong, lâu rồi nó không bị nữa nên ai cũng tưởng là nó hết. Nó bị nhiều, té ngoài sàn nước trúng vô cái lu sành nên bị gãy mất hai răng cửa. Tuần đó, hay tôi về, nó chạy xuống liền. Lúc hai đứa ngồi trên cây cầu dưới bến, nó buồn dữ lắm. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, bình thường nó hay động viên tôi “ có gì mà phải khóc”. Thấy tôi dòm, nó hỏi giờ nó xấu lắm phải hông? Tôi không trả lời, kéo tay áo lên chùi nước mũi cho nó. Tôi thấy con mắt nó sụp mí thêm nhiều, cái trán thì bị móp do té hồi lớp bốn, giờ lại mất thêm mấy cái răng...Nội tôi thường nói bản thân tuổi trẻ vốn đã là nhan sắc. Còn với tôi, chỉ cần tươi vui, ân cần... là không ai xấu hết. Chiều đó tôi rủ Yến Em xay bột, thắng nước cốt dừa làm bánh lá. Lúc đang hấp bánh, tôi chạy ra vườn kiếm mấy trái nổ, ép nó bỏ vô họng cho nổ cái bùm nó mới chịu cười...Hè năm đó tôi xin nội tiền của một đợt bẻ dừa, cộng thêm ít tiền mà tôi dành dụm được, tôi đạp xe chở Yến Em ra chợ huyện trồng răng. Xuôi ngược đoạn đường ba mươi bốn cây mấy bận trong hè, cuối cùng nó cũng có răng mới. Cái bữa lắp răng xong, về mắc mưa tầm tã, đoạn đường mười mấy cây số chỉ chạy xe được hơn phân nửa, còn lại là dắt không vì bánh xe kẹt sình cứng ngắt. Vậy mà nó đi sau, một tay cầm nhánh cây nhỏ để nại sình, một tay đẩy đít xe, cười nói huyên thuyên hổng ngớt. Dòm thấy nó vậy, tôi nhẹ cả lòng...Chuyện mấy cái răng giả của Yến Em vẫn còn chưa hết, một thời gian sau nó lại bị kinh phong, trong lúc co giựt mấy cái răng giả sứt ra, hên là nội tôi dòm thấy la lên, lúc đó tôi cũng có mặt, kịp thời bóp miệng nó móc răng ra, nếu không, nó nuốt mấy cái răng này thì không hiểu chuyện gì sẽ tới. Kì đó tôi hết hồn hết vía, đêm nằm trằn trọc hoài không ngủ được, hổng khéo chuyện làm đẹp này lại hại nó mạng vong. Sau đó tôi dặn nó phải cẩn thận, đừng gắn răng hoài, khi nào đi đâu hoặc gặp nhiều người thì hãy gắn. Nó cười ôm chầm lấy tôi nói “biết rồi”.

Mùa hè tôi có nhiều thời gian chơi với Yến Em hơn, nhưng thật ra niềm vui bất tận đối với tôi vẫn là đọc sách. Tiền nội cho, tiền tôi và Yến Em bán lá chuối, trái cây lặt vặt... tôi đều đem đi mướn sách. Mấy tiệm sách cũ ngoài chợ huyện là mối của tôi, tôi còn mua hẳn vài quyển sách hay, đem về làm của nhét dưới đầu nằm, đêm nào cũng chong đèn dầu đọc sách tới khuya, có cuốn đọc hơn cả chục lần, thuộc làu từng lời thoại, cả thế giới như mở ra theo từng trang sách...Tôi nhớ thầy dạy văn của tôi giảng Napoleon có câu nói rất là nổi tiếng “ mỗi một giờ mất đi là một dịp cho sự rủi ro ở tương lai”, vì vậy thầy biểu nếu muốn sau này không nuối tiếc điều gì thì đừng để thời gian ở hiện tại trôi qua một cách vô ích.

 Thỉnh thoảng Dũng cũng ghé tìm tôi mượn tập hoặc đợi tôi đi học. Yến Em thì luôn khen Dũng đẹp trai, lần nào gặp Dũng nó cũng cười hoài, dòm Dũng không chớp mắt...Riêng tôi thì luôn né cái nhìn của Dũng, giữa tôi với Dũng có xảy ra chút chuyện làm cho tôi vô cùng bối rối mà không biết tâm sự cùng ai. Thật ra Dũng có gởi cho tôi một lá thơ bày tỏ lòng mình. Tôi đã đọc lá thơ này không biết bao lần rồi mà lần nào mở ra cũng còn hồi hộp. Đến nỗi những lần đọc sau này tôi không biết làm gì bèn lấy viết đỏ ra mà soi chính tả. Cả tuần không thấy tôi trả lời hay đả động gì tới chuyện lá thơ, một lần đi học về hai đứa đụt mưa trong cái chòi lá dọc đường, Dũng đứng thiệt gần tôi rồi ngập ngừng hỏi nhỏ “ có đọc thơ chưa?”. Tôi cười, trả lời mà không dòm Dũng “ Thảo đọc rồi, đọc rất nhiều lần. Tổng cộng có tám chữ yêu, sai năm lỗi, hai chỗ bị lem với...”. Tôi chưa kịp nói hết câu thì gương mặt và đôi mắt đỏ hừng, hơi thở nóng hổi cùng với bờ môi như lửa của Dũng áp chặt vào mũi, vào khoé miệng tôi... Không hiểu sao lúc đó tôi hổng bạt tai Dũng như trong tiểu thuyết hay trong mấy bộ phim tôi thường thấy, mà tôi như bị đứng hình, tim đập đùng đùng muốn bay ra ngoài lồng ngực, đến khi môi Dũng miết lên môi tôi, tôi mới hoảng hồn thoát ra và quay lưng lại, nghe như trăm ngàn con kiến bò dọc theo sống lưng và cả hai tay. Vừa lúc đó thì trời mưa nhẹ hạt, tôi hấp tấp phóng lên xe đạp, chạy thụt mạng hướng về nhà, nghe vẳng phía sau tiếng Dũng kêu lấy vải mủ choàng lên vai hổng thôi lạnh chết. Bữa đó tôi ăn cơm vội vàng, học bài không được, đọc sách cũng hổng vô...Đêm, tôi ngủ mơ màng, nghe nồng mùi mồ hôi của con trai vừa quen vừa lạ. Mấy bữa sau đi học gặp nhau tôi cứ cúi đầu không dòm Dũng, còn Dũng chỉ cười, đôi mắt đượm buồn...Tới chừng về bị mưa, xe đạp lại kẹt sình cứng ngắt. Dũng giở chiếc xe đạp của tôi lên, đem xuống mé mương nhúng nước cho tróc bớt sình, tôi mới lí nhí nói lời cảm ơn với Dũng...

Khi tôi vào lớp mười hai thì xóm tôi có nhiều chuyện mới. Có lẽ chuyện mới nhứt là ngoài bờ sông Xáng xuất hiện nhà máy chà lúa và một cái lò đường. Vậy là ghe lớn chở lúa, chở mía ghé về tấp nập, theo đó người lạ cũng xuất hiện rất nhiều, đàn ông đàn bà gì cũng có. Đàn ông thì vác lúa, vác mía chuyển từ ghe dưới sông lên nhà máy, còn đàn bà thì sàng gạo, lụm thóc, lựa bông cỏ, xúc gạo vô bao. Nhiều người lúc trước ở không giờ cũng có việc làm. Bụi cám và mùi khét của nước đường bay vô tư trong gió bao trùm lên cả xóm. Lúc rày tôi thấy Yến Em ít ghé nhà tôi, có khi tôi về mà không gặp nó. Nội tôi nói xóm mình bây giờ xôm tụ lắm. Có bữa chiều cuối tuần ngóng hoài không thấy nó xuống chơi, tôi cầm theo hai khúc mía đi lang thang ra bờ sông tìm nó. Từ xa trông thấy nó tôi thoáng giựt mình. Nó ngồi trên một gốc cây, môi tô son đỏ chót, miệng luôn cười như khoe giờ đã...đủ răng. Tay Yến Em đeo tới mấy chiếc vòng. Cái áo bó sát người, chật tới nỗi tôi tưởng chỉ cần thở mạnh là bay hết hàng nút áo. Thấy tôi nó cười híp mắt, coi nè đẹp hôn Thảo? Tôi trả lời quá đẹp. Dòm theo ánh mắt nó, tôi thấy dưới sông một hàng dài đàn ông đang vác mía lên bờ. Ai cũng cởi trần khoe thân hình cường tráng mồ hôi nhễ nhại, chân bước nhanh theo nhịp nhún nhảy của cây đòn dài. Bây giờ tôi đã lờ mờ nhận ra lý do vì sao lúc rày Yến Em ít kiếm tôi như hồi đó. Tôi đưa Yến Em khúc mía, nó không ăn vì sợ trôi son. Vậy là tôi đứng tần ngần, xước hai khúc mía ăn hết rồi đi về trước, quên hỏi nó mua son hồi nào mà tôi hổng biết. Lần đầu tiên kể từ khi quen biết nhau hai đứa không về cùng một lượt, gặp nhau rồi mà hổng đi cùng nhau trên một con đường...

Vào học lớp mười hai cỡ chừng hơn một tháng, một bữa tôi đạp xe tới nhà cô chủ nhiệm trả mấy cuốn sách mà cô cho mượn, lúc về nhà nội nói Dũng có tới tìm tôi, đợi tôi không được nên Dũng đã đi rồi. Mấy bữa sau Dũng không đi học, tôi đớ người khi tụi bạn trong lớp nói gia đình Dũng đã chuyển đi xa, nghe đâu tới tận Vũng Tàu...Khoảng thời gian còn lại mình tôi đi học, có bữa trời mưa đường xa hun hút, xe kẹt cứng đầy sình, tôi bậm môi cố sức đẩy xe, ráng dòm xuyên màn nước mưa trắng xoá, mong sao Dũng xuất hiện, dùng hai cánh tay rắn chắc nhấc bổng chiếc xe cà tàng của tôi lên rồi đem xuống mé mương giũ cho trôi hết đám sình...Có những đêm tôi ngủ chập chờn, thấy Dũng và tôi ngồi dưới gốc bần. Dũng ép tôi cắn rồi nhai trái bần non, chua tới nổi chảy nước mắt và rùng mình mấy cái. Dũng phì cười, cứ dòm tôi miết rồi lấy dao khắc hai chữ D-T lên thân của cây bần. Dũng khen tóc tôi thiệt thơm mùi lá chanh lá sả ... Tôi còn thấy tự mình chạm môi vào càm Dũng, vì Dũng cao nên tôi phải nhón chân. Cảm giác những cọng râu của Dũng cọ vô gò má nhồn nhột làm tôi nổi da gà...Lúc tỉnh dậy, tôi trở mình nằm sấp dụi mặt vào cái gối, lòng cứ mong cho đó là sự thật. Sao Dũng đi mà không nói một tiếng cùng tôi?

Thấy giờ cả xã chỉ còn mình ên tôi đi học, nội tôi biểu cực khổ quá trời hay là tôi nên nghỉ. Học rồi hổng biết sau này sẽ làm gì, lúc đó là năm chín mươi lăm của thế kỉ trước. Nội còn nói hay là tôi nghỉ học để lấy chồng. Mấy bữa trước có anh Nhân, cháu nội của ông Bảy Đâu xóm dưới đến coi mắt mà tôi hổng có nhà. Anh Nhân lớn hơn tôi vài tuổi, giờ đang coi sóc mấy chục công vườn. Nội nói nhà ông Bảy Đâu khá lắm, tôi mà lọt vô đó cũng được nhờ vả tấm thân...Nhà đó có khá ra sao thì tôi hổng biết, chứ còn anh Nhân hồi nhỏ hung dữ lắm. Nhà ông Bảy nuôi nhiều chó, mỗi lần tụi con nít đi ngang bị chó dùa sợ quéo cả người. Hồi đó có lần Yến Em rủ anh Nhân chơi trò cô dâu chú rể, ảnh thẳng thừng chê Yến Em xấu hoắc, nói sau này có cưới thì chỉ cưới Hương Thảo mà thôi. Báo hại Yến Em mếu máu, tôi phải xin mấy cái trứng gà của nội đem cho nó thì nó mới chịu nguôi ngoai. Còn ông Bảy Đâu thì thôi khỏi nói, ông già tuổi bảy mươi này nổi tiếng cả một vùng. Mấy dì mấy cô đầu trên xóm dưới thì rành ổng sáu câu vọng cổ. Chuyện là nhà ổng lắm đất vườn nên nhiều đàn bà con gái hay ghé mua trái cây các thứ. Ông Bảy thường giú chuối, giú mít trong một cái lu thiệt bự. Ai vô mua thì ổng biểu vô lu mà lựa. Vì lu cao quá nên ai muốn lấy trái cây ra cũng phải chổng khu thò đầu vô đó, vậy là ổng tha hồ mà sờ mó...Mấy dì mấy cô hoảng hồn, bỏ chạy tán loạn. Mọi người còn kể có cô bưng sề đi bán bánh bò, bánh lá. Ông Bảy biểu vô ổng mua cho, vô rồi ổng hỏi “ em có gan hông?”, cô này hỏi lại “ dạ, gan là sao ông Bảy?”. Ổng nói “gan là ở đây chơi với Qua tới chiều, Qua mua hết sề bánh cho em”. Cô này hết hồn hết vía bưng sề chạy trối chết “ dạ, con hổng có gan ông Bảy ơi”. Thấy vậy chứ có ngày ông Bảy cũng bị chơi khăm chứ đâu phải lúc nào cũng làm cha thiên hạ. Bữa nọ có một cô ở tuốt xóm trên kia, đến nhà ông Bảy hỏi mượn heo nọc. Ở quê tôi thời đó ai nuôi heo nái là tự đi kiếm mà mướn con heo nọc dắt về bỏ giống. Ổng chửi quá trời hỏi ai chỉ làm cô này đớ cả người luôn, hồi lâu mới biết thì ra mấy anh câu tôm dưới bến chơi khăm chỉ nhà ông Bảy chứ cô này vô tội. Từ đó, tối nào mấy anh câu tôm cũng bị nạng giàn thun bắn xuống xuồng bôm bốp suốt cả đêm tới nổi phải bỏ mà đi bến khác...Tôi nói với nội tôi còn đi học, nên chưa thể lấy chồng. Thật ra chuyện có chồng sớm ở quê đối với tôi là một điều ám ảnh. Cuộc đời đàn bà chốn này là gồng gánh mòn vai. Suốt ngày đi chân đất, đến tối vô mùng mới ra lu xối vài ca nước rửa chân. Như chị Gái Lớn ở xóm trên có chồng tối ngày say xỉn, sáng sớm bảnh mắt ra là súc miệng bằng rượu đế rồi. Mỗi lúc nhậu về là vợ phải ra trước cửa đứng chờ rồi hô lớn “ mừng anh chiến thắng trở về”, nếu không là ngày đó trong kệ đố còn cái chén ăn cơm. Có người thì nhậu về dùng dây lạt dừa trói vợ rồi lấy dao nhíp tự phá thai cho vợ bởi vì có bầu hoài mà sanh toàn con gái. Hổng biết có người đàn bà nào hạnh phúc không thì tôi chưa thấy. Chứ sao tôi không thấy ai xưng hô ngọt ngào với vợ như trong sách, mà cũng hổng có ai nấu cơm làm đồ ăn tiếp vợ bao giờ, vì chuyện này là chuyện của đàn bà. Ở quê tôi cứ cưới xong rồi là kêu nhau bằng “ ông” hết. Chồng cũng kêu vợ bằng “ông”, kì cục thiệt, chắc là quên tên vợ...Hay người ta nghĩ rằng tất cả mấy vụ đó là chuyện hiển nhiên?

Tôi ở đồng bằng, đọc sách thấy khung cảnh vùng cao thơ mộng lắm. Tôi thầm mong mình được nếm thử một chút rượu cần. Tôi còn mơ mình được đi xe lửa...Không biết bao giờ điện mới tới quê tôi, bao giờ mỗi nhà đều có ti vi, bao giờ hết cảnh mỗi lần có người đi đẻ đều nằm trên võng cho người ta khiêng bộ lên trạm xá...?

Tôi học hết mười hai, thi tốt nghiệp xong, thi đại học khối C rồi đậu vào tổng hợp văn ở Sài Gòn. Nội hỏi tôi học cái đó chừng nữa làm gì, tôi trả lời vì ham sách nên học đại, chứ tôi cũng không biết rõ. Nội nói giờ vườn dừa có trái hái đều từng tháng, ông bà nội cũng không ăn uống gì nhiều, nếu tôi học tiếp nội sẽ nhờ mấy người thường đi Mỹ Tho qua bưu điện tỉnh gởi tiền hàng tháng cho tôi. Trước cái bữa tôi đi có rủ Yến Em xuống ngủ. Nó hỏi tôi học gì mà học hoài, giờ còn đi xa học nữa bộ hổng biết mệt hay sao, hổng chịu lấy chồng đẻ con đi, ở gần đàn ông vui lắm...Nghe Yến Em nói tự dưng tôi nhớ Dũng, bây giờ ngoài đó Dũng làm gì, mà sao không gởi cho tôi dù chỉ là một lá thơ?

Tôi ở Sài Gòn được một năm thì nội tôi viết thơ lên nói Yến Em vừa mới sanh con gái. Cả xóm xôn xao, người ta nói đó là con của mấy anh vác mía chỗ lò đường vì chiều nào Yến Em cũng làm đẹp rồi ra đó ngồi “ hứng gió”. Người thì nói con đó là của ông ba dượng vì người dưng mà ở chung nhà tối ngày ra vô đụng chạm. Riêng Yến Em thì miệng kín như bưng, tuyệt nhiên không tiết lộ ba của đứa nhỏ là ai. Nội tôi còn kể ngày Yến Em đẻ không chịu lên trạm xá mà bà ngoại nó làm mụ sanh cho nó. Sau đó một thời gian tôi có về quê thăm nội. Lúc về tôi đi ngang uỷ ban nhân dân xã, có chú kêu tôi vô trỏng lấy thơ, tôi hỏi thơ gì nói thơ đó gởi cho bà nội. Cơ khổ, tôi cầm trên tay mới biết đó là lá thơ tôi gởi về nhà đã mấy tháng rồi, tới xã người ta ngâm ở đó, giờ tôi về, chính tay tôi nhận lá thơ mình viết đem đưa cho nội. Thiệt, sao mà “bỗng dưng muốn khóc”. Lúc tôi lên thăm Yến Em thì hổng gặp đứa nhỏ. Tôi hỏi con đâu, Yến Em nói má nó đem cho người ta rồi vì nhà nó nuôi không nổi. Người ta có cho nó một chỉ vàng, má nó cất dùm rồi. Tôi để ý cũng không thấy Yến Em buồn nên thôi tôi không hỏi nữa. Quần áo con nít tôi lỡ mua rồi Yến Em đem vô cất kỹ, nó cười nói để dành. Tôi thấy Yến Em giờ có vẻ bề sề, nội tôi nói nó đã thành đàn bà, một lửa rồi nên người nở nang như vậy...Lúc tôi trở lại Sài Gòn, Yến Em cho tôi trái mít và mấy chậu trầu bà trồng trong cái gáo dừa. Nó lựa trái mít nhỏ mà tròn, lấy cọc đóng vào ngay cái cuống rồi rắc muối vô cho mau chín...Yến Em nói lâu quá rồi kể từ năm lớp bốn, nó không đọc sách cũng không cầm viết nên quên mặt chữ vì vậy mà không thể gởi thơ được cho tôi. Tôi cười nói hổng sao, có gì tôi sẽ nhắn nó qua thơ của nội.

Tôi học gần hết năm hai thì quê tôi làm đường đá đỏ, điện đã được kéo về tuy nhiên rất yếu. Nội tôi nói chiều năm giờ là phải tranh thủ mở đèn, nếu không tới tối là đèn vô phương sáng nổi. Tôi ở Sài Gòn cũng theo mấy đứa bạn đi làm kiếm thêm tiền mua sách vở. Chỗ tôi ở có cái ban công nhỏ buổi sáng tràn ngập nắng. Hai chậu trầu bà Yến Em cho được hấp thụ hơi sương, dù ở phố cũng vô cùng tươi tốt, tược mọc sum xuê vươn dài quấn quanh cửa sổ. Có khi mấy chú chim thành phố cũng tới đứng ngó nghiêng nhảy nhót rồi rúc mỏ vô mấy lá trầu.

Tôi cũng tập tành viết lách mà lâu dữ lắm mới được một bài đăng. Có chị bạn nói giờ bài vở đăng cũng đều có mối. Tôi cười ngượng ngùng “ em là tay ngang, chủ yếu viết để trãi lòng, có khi đâu trúng ý người biên tập”. Mấy đứa học cùng tụi nó nói tôi quê. Tối ngày cứ quần ống suông với áo sơ mi kín bít bùng. Tóc thì một kiểu cột đuôi ngựa xước ngược lên, hổng chịu tô son nên mặt mày nhợt nhạt. Mỗi lần nghe vậy tôi chỉ cười trừ, biết làm sao khác được bây giờ. Có mấy buổi chiều sau khi dạy kèm xong, tôi đạp xe lạng một vòng ra chốn ngoại thành, lang thang dưới những hàng cây tới tối mịt mới về. Từ bữa cái đứa chung phòng dọn sang nhà trọ khác sống với người yêu của nó... tôi ở một mình. Có khi tan học, ra khỏi cổng trường đạp xe giữa biển người đông đúc, thoáng thấy một vóc dáng cao cao, mái tóc dày và cặp chân mày đậm lướt ngang qua, tim tôi đập thình thình, chắc là không phải. Dễ gì...

Có khi tôi bệnh, nằm chèo queo trong phòng trọ, người sốt cao hầm hập. Tôi thèm quá chừng một chén cháo trắng ăn với cá bóng kho tiêu. Thèm nồi lá xông của nội nồng mùi lá chanh lá sả với vài lát gừng tươi và mấy lá tía tô. Cởi áo ra, trùm mền rồi từ từ mở nắp vung cho mồ hôi đổ xuống bụng đầm đìa. Mấy đêm bệnh giấc ngủ cứ chập chờn. Khi thì tôi thấy mình với Yến Em nằm trên đống rơm tươi chất giữa bờ so đũa, kế bên con diều bay tung tẩy lưng chừng trời, dây diều được cột vào một góc cây. Mạnh đứa nào nấy xước mía nhai rồi dòm lên trời kiếm những đám mây có hình thù kì dị, mỗi khi tìm được rồi thì cãi nhau um tỏi coi nó giống con gì. Có khi tôi thấy Dũng cầm một trái bình bát chín với mấy tai nấm mối gói trong lá chuối xanh, thấy Dũng đưa tôi giơ tay ra lấy thì Dũng liền giựt lại. Dũng khum xuống gần tôi nói nhỏ “ chạm môi chút đi anh sẽ cho liền”. Tôi bĩu môi “ ai mà thèm, Dũng để xài đi”. Vậy là Dũng ghị sát, vùi mặt vô cổ làm tôi hoảng vía dùng hết sức bình sinh để đẩy Dũng ra...Tay tôi đập mạnh xuống giường vậy là tôi tỉnh giấc, người ướt đẫm mồ hôi. Lâu lắm rồi mà sao tôi vẫn chưa quên được...

 Lần đầu tiên tụi bạn ép tôi trang điểm là bữa đi sinh nhật một nhỏ cùng lớp vào lúc tôi học năm ba. Mái tóc dài quê mùa của tôi được thắt bính thảy ra sau lưng. Tôi thấy mặt mình trăng trắng, còn môi thì ngồ ngộ. Tôi còn bị ép mặc quần jean với cái áo sát tay. Tôi đứng tần ngần dòm mình trong kiếng. Ừ, chắc ai rồi cũng khác. Bữa đó, mãi vui, tôi không kịp ghé qua phòng trọ thay đồ mà tới giờ chạy đi dạy kèm luôn. Trong lúc đang giảng bài cho bé tôi thấy chú phụ huynh dòm tôi thiệt là kì cục, lúc ra về còn cố ý đụng chạm người tôi...Tôi sợ, vậy là tôi bỏ chỗ dạy kèm này, còn nửa tháng lương tôi chưa được nhận.

Cũng trong thời gian đó tôi có thơ của nội. Ông bà nội tôi vẫn khoẻ nhưng không còn được như lúc trước, dù sao tuổi cũng đã gần ngấp nghé bảy mươi. Riêng Yến Em thì nội tôi nói nó tiếp tục có bầu, bây giờ cái bầu chắc hơn sáu tháng. Vẫn y như lần trước, mọi người không biết kẻ ăn ở với nó là ai vì nó không chịu nói. Có chuyện buồn hơn nữa là ba dượng của Yến Em không hiểu lý do gì mà treo cổ trên cây dong đầu xóm. Năm giờ sáng mấy người đàn bà đi chợ sớm dòm thấy cặp chân tím ngắt treo lủng lẳng trên cây bên vệ đường thì tá hoả la làng, người ta tháo xuống nhưng không cứu kịp. Nội tôi nói xóm tôi khi đó rần rần vì có công an tỉnh lên làm hồ sơ, xét nghiệm hiện trường mà hồi đó gọi là ăn kết. Đứa con lần này của Yến Em cũng được đem cho người khác. Gặp tôi, nó có vẻ buồn. Nó nói sẽ cố gắng làm kiếm tiền để đi thăm con nó. Yến Em còn nói chắc là nó xin đi giúp việc nhà ở dưới Mỹ Tho. Nghe nói vậy tôi thiệt mừng cho nó.

Năm học cuối cùng của tôi trôi qua với nhiều bận rộn vì những kì thi hết học phần và mấy lần làm tiểu luận. Con tim của tôi cũng có lần tưởng đã xôn xao nhưng cuối cùng lỗi nhịp. Có lẽ trong nhiều việc người ta không được phép ngập ngừng mà tôi thì ngập ngừng nhiều quá. Trong cái guồng quay hối hả của cuộc sống này, không ai rảnh rỗi mà đứng lại đợi chờ tôi ...

Chuyến đò mùa hè năm chín mươi chín chở tôi về nhà với niềm vui khấp khởi vì vừa lãnh bằng đại học. Gặp nội tôi kể chuyện huyên thuyên gần hết cả buổi chiều. Tới chừng tôi nói có quà cho Yến Em để tôi chạy lên tìm nó thì nội mới biết tôi không nhận được thơ. Hồi đó cũng không có điện thoại, không có cách gì để nội kêu tôi liền được. Yến Em đi xa rồi từ hơn hai tháng trước. Nó ra kênh giặt chiếu một mình thì bị giựt kinh phong, tới chừng người ta hay được thì thấy nó nằm úp mặt, người vắt ngang cầu, mái tóc dài trôi bồng bềnh theo con nước. Tôi gần như chết sững. Nội tôi nói một thời gian trước nó hay buồn, nó nói nhớ và muốn đi thăm con của nó. Thấy nó cứ bầu bì hoài, mấy dì mấy cô làm bên phụ nữ xã tính dắt nó đi xuống huyện để mà triệt sản, chưa kịp đi thì nó đã không còn. Chiều đó tôi ra mộ Yến Em, vì nhà không có đất nhiều nên nó được đem ra gò mả. Quanh chỗ nó nằm từng chùm bông soi nhái vàng tươi rập rờn nương theo gió. Mấy chùm bông nổ cũng chen nhau tím lịm trong chiều. Tôi ngồi lặng thinh nghe tim mình rung lên từng chập. Vậy là nó đi thiệt rồi, đem theo sự lặng im mãi mãi, thì nó vậy mà, lúc nào cũng ôm lấy cái câu “ tui sao cũng được”... Hình như trời đang kéo mây ngang, tôi dòm lên thì thấy rất nhiều đám mây có hình thù kì dị, bây giờ thì không còn ai thèm tranh với tôi nữa, mây có hình dạng gì chỉ mình tôi để ý mà thôi. Tôi với tay hái vài trái nổ chín đen bỏ vô họng và nhắm mắt, bùm bùm hai ba tiếng nổ trong cổ họng, sao tôi hổng giựt mình như mọi lần mà nước mắt chảy đầm đìa. Tôi như thấy Yến Em cười rồi nghiêng đầu dòm sát mặt tôi “ xời, có gì đâu mà khóc?”. Chuyến này về tôi có mua cho nó một chiếc vòng từ tiền tôi đi làm thêm dành dụm được, dù rất mỏng nhưng là vàng thiệt...Năm đó tôi vừa tròn hai mươi hai tuổi.

Tôi vẫn trụ lại ở thành phố này trong căn phòng trọ năm nào. Tờ báo nhỏ nơi tôi làm việc cũng đủ làm cho tôi bận rộn. Cái ban công ngày nào cũng luôn ngập nắng, ngoài hai chậu trầu của Yến Em giờ có thêm giàn dây tóc tiên bông đỏ với mấy cây nổ tôi đem hột từ dưới quê lên gieo vô chậu nay cũng bung hoa tím từng chùm. Trong những chuyến công tác tôi vẫn tranh thủ ghé qua nhà thăm ông bà nội. Thế kỉ hai mươi mốt đang trôi và tuổi ba mươi cũng theo tôi tới tự khi nào. Quê tôi giờ đường đal đã thay cho đường đá đỏ. Nội tôi đã được coi cải lương tại nhà với cái ti vi mười bốn in màn hình đen trắng rồi sau đó chuyển sang tivi màu. Ở cơ quan tôi người không đông lắm, nhưng đa phần là nữ. Tiền lương và nhuận bút của tôi tiết kiệm cũng đủ xài, thỉnh thoảng tôi cũng nhín chút mua quà gởi cho những người thân. Sài Gòn chiều nào dù mưa hay nắng cũng đông nghẹt những người mà tôi rong ruổi có mình ên vậy có phải là tôi đang lẻ bóng? Ngày nào tôi cũng nghe mấy chị có gia đình than phiền chuyện chồng con. Nói rằng tiền bạc thì luôn luôn thiếu hụt, mỗi lần đi chợ rà tới đảo lui, đắn đo nát óc mà hổng biết mua gì. Chuyện dạy dỗ con cái bây giờ thiệt là lắm nhiêu khê. Rằng người chung giường sau bao nhiêu năm giờ không còn nhận ra nhau nữa. Ngày trước hẹn hò, mỗi lần điện thoại là tíu tít “ Anh nghe em ơi”. Lúc cưới nhau rồi mà chưa đẻ chửa cũng còn ngọt ngào dữ lắm “ Anh nghe”. Tới khi có mấy mặt con rồi mỗi lần bắt máy lên thì chỉ còn gọn lỏn “ Nghe, chuyện gì nữa vậy trời!”. Có chị thì bị streess nặng luôn vì lún trong mớ việc nhà, đầu bù tóc rối. Có người vật chất hơi đầy đủ thì phải thường xuyên về kêu em út đi phụ đánh ghen. Cũng có người “tự dưng” lâm vào cảnh người thứ ba, bị người ta tìm tới cơ quan làm cho một chập. Các chị em rủ nhau uống thuốc giảm cân hoặc thường xuyên thể dục, ráng kiêng ăn để giữ vững ba vòng. Có người ngày trước mổ bắt con giờ thiếu tự tin vì vết thẹo nên phải đi mỹ viện để cà. Còn những người độc thân thì than rằng đàn ông tốt hết rồi, một là đã chết hai là chưa được chào đời. Mọi người còn truyền tai nhau kinh nghiệm xương máu rằng đàn bà trước khi đứng lên biểu tình giành quyền bình đẳng thì phải nên... nằm xuống. Cuối năm xét thi đua ở cơ quan cũng lắm kẻ khóc người cười. Thiệt thương, thì ra vốn dĩ đàn bà hay nặng lòng như vậy. Giờ nghĩ lại, tôi chợt thấy Yến Em thiệt là hay, cứ cố gắng hết mình đi rồi “ sao cũng được mà”.

Có lẽ điều làm tôi vui nhất là những chuyến đi dài bất tận. Hồi bốn năm đại học là tôi đã cảm nhận rất rõ điều này. Tôi biết được mình nhóm máu O là cũng do những lần tự nguyện trong chiến dịch hè xanh. Bây giờ, tôi đã được đi xe lửa rất nhiều lần. Uống rượu cần đến ngất ngây say trong những đêm cao nguyên bập bùng ánh lửa, được giơ tay chạm vào mây khi đứng tại đỉnh đèo, điều mà ngày xưa tôi và Yến Em biết bao lần mơ ước.

Ừ! Sẽ thiếu sót rất nhiều nếu quên nói ra tôi đã có lần gặp Dũng. Buổi chiều ở một làng chài ven biển, khi tôi đang say sưa với cái máy chụp hình thì có cảm giác nóng ót như bị ai dòm. Lúc quay lại tôi bần thần nhận ra là Dũng. Bây giờ Dũng đen nhiều, râu cũng nhiều hơn trước, nhưng cặp chân mày đậm, mái tóc dày và hàng răng trắng là không lẫn vào đâu được. Khi ngồi cạnh bên nhau trong cái quán nhỏ dưới hàng dương tôi mới nhìn kỹ Dũng hơn, nhìn thật gần cái gương mặt mà trong miền kí ức mờ xa tôi đã hơn một lần mong nhớ. Thì ra thời gian tôi đi học tiếp là Dũng ở trong tù. Lúc mới ra ngoài này, do sự cạnh tranh quyết liệt trong buôn bán, việc tranh giành bến bãi của gia đình mà mâu thuẫn xảy ra. Vậy là tuổi mười tám của Dũng phải trả giá bằng mười hai năm khi đâm chết một người. Lúc ra tù rồi Dũng có trở lại quê cũ để tìm tôi nhưng mà không gặp. Bây giờ Dũng quản lý vài con tàu đánh bắt cá của gia đình. Dũng đã cưới vợ và có hai con. Biết tôi ngày cũng như đêm đi về chỉ một mình Dũng dòm tôi đăm đắm. Tôi có kể Dũng nghe về chuyện của Yến Em, Dũng thở dài châm điếu thuốc rồi nói đời thật vô thường...Dũng khen tôi giờ đẹp hơn hồi đó, tôi cười ngặt nghẽo nói có ai mà ba mươi tư lại đẹp hơn mười tám. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi ngồi uống rượu riêng chỉ với một người. Tôi đưa cái nhìn xa xăm ra hướng biển nhưng thật ra vẫn âm thầm quan sát Dũng, tôi dòm hai cánh tay coi có còn rắn chắc như ngày xưa đã từng nhấc bổng chiếc xe đạp của tôi không. Tự dưng lúc đó cặp loa trong quán nhỏ nhả ra câu hát “ Và còn nợ em, dòng xưa bến cũ, dòng xưa bến cũ, con sông êm đềm. Anh còn nợ em, nụ hôn vội vàng, nụ hôn vội vàng...nắng chói qua rèm...”. Tôi và Dũng nhìn nhau rồi bất chợt mỉm cười. Ngẫm kỹ lại, ở đời này, chắc người ta triền miên thiếu nợ. Có rất nhiều điều tôi và Dũng muốn nói cùng nhau, nhưng nghĩ lại rồi thôi, bây giờ nói ra cũng... đâu có ích gì? Bây giờ Dũng mừng vì thấy tôi như vậy...Lúc chia tay tôi quay về khách sạn, Dũng có hỏi số điện thoại và địa chỉ phòng trọ của tôi trong thành phố, tôi lắc đầu mỉm cười mà không nói. Gặp nhau như vậy là cũng đủ lắm rồi. Tôi quay lưng đi một đoạn thì Dũng đuổi theo và nói muốn ôm tôi, tôi gật đầu đồng ý. Dũng kéo tôi vào ngực, xiết chặt tôi trong đôi tay mạnh mẽ. Dũng cười rất hiền rồi nói nhỏ “Sau này đừng bắt lỗi chính tả nếu có đọc thơ tình và nhớ trả lời nhanh cho người ta biết”. Tôi nhón chân chạm môi vào càm Dũng như có lần tôi đã làm vậy lúc chiêm bao, nhưng bây giờ tuyệt nhiên tôi không thấy tim mình nện thình thình như hồi tôi mười tám nữa, mà nó đập đều đặn êm đềm...Lần này tôi đi thiệt và không quay đầu nhìn lại dù biết Dũng đứng trông theo...Tôi biết từ đây tôi sẽ không bao giờ nằm mơ thấy Dũng nữa...Không biết gió đêm ở biển có lạnh không mà sao tôi thấy lòng ấm áp, tôi biết tóc mình vẫn đủ dài để theo gió tung bay.

Bây giờ, thời đại bốn chấm không, chỉ một cái lướt phím thôi là đủ dòm ra thế giới. Facebook của mọi người sáng đèn từng giờ từng phút từng giây. Nhớ có đứa em làm việc cùng phòng nói muốn biết hạnh phúc của ai thì lên rình trên Facebook. Lúc đó tôi rất ngạc nhiên vì chưa xài mạng xã hội, giờ đây có lẽ tôi cũng hiểu được phần nào. Người ta khổ đau, sung sướng, trách hờn, nghi kị hay đôi khi thiếu chân thật cùng nhau...hình như đều phơi bày trên đó. Người ta bình luận, chia sẻ bất kể đúng sai...Không còn như những ngày xưa, cái gì cũng giấu ở trong lòng, cái gì cũng sợ người đối diện buồn, cái gì cũng cố gắng để làm, lúc nào cũng “có gì đâu, tui sao cũng đươc...”. Ừ, mà sao tự dưng tôi lại nhớ Yến Em, nó đem nỗi niềm riêng chôn dưới mấy chùm bông soi nhái rập rờn âu cũng là một sự chọn lựa.

Thật lòng, đôi khi cũng thấy mình chếnh choáng, vẫn còn rất nhiều đêm không ngủ được vì nhiều thứ. Người ta nói vui đời người có ba hồi, còn trẻ thì “hồi hộp”, sồn sồn thì “hồi xuân”, về già thì “ hồi đó”. Tôi thấy với tôi sao mà đúng vậy. Hồi tôi mười tám mặc dù kềm nén nhưng tim lúc nào cũng xôn xao, nhiều khi cả đêm khó ngủ vì một bàn tay ấm nóng hay một nét môi cười. Giai đoạn hồi xuân không biết tới hay chưa mà bây giờ mỗi khi bắt đầu câu chuyện ưa kèm theo hai từ “ hồi đó”, như nhắc nhở về một miền ký ức nào xa lắc.

Sau những chuyến đi, tôi thường nằm một mình trong phòng trọ, mở bung cửa sổ rồi nhìn khắp lượt xung quanh, giật mình sao chẳng có gì ngoài cây và sách. Mấy dây trầu bà dòm mỏng manh như vậy chứ nó không những tốt tươi trong đất mà khi ở trong nước cũng chẳng kém cạnh gì. Trong nắng gió mênh mông nó luôn vươn mình để thở và làm cho trong lành không khí...Tôi lại mở mấy cuốn tập giấy đã ố vàng mà ngày xưa hồi học cấp ba bọn tôi chuyền tay nhau viết danh ngôn và những bài nhạc cũ ra coi, dù bao nhiêu lần coi lại nhưng lần nào cảm xúc cũng vẹn nguyên. Hành trang của người đàn bà bốn mươi như tôi giờ có được những gì?

 Nhớ những buổi đường trưa chạy xe gần năm mươi cây số đi tiếp liền một đơn vị máu cho một người cần, về nhà trong cơn say nắng mà lòng lâng lâng hạnh phúc. Mấy bữa cùng mọi người ở cơ quan đi thăm trung tâm bảo trợ, cầm hộp sữa tươi cho em bé không có tay uống mà lén chùi nước mắt, dòm xuống đôi tay mình sao quí giá vô cùng. Những lần đi trại sáng tác ngủ luôn trên ghe ở sông Ngã Bảy, nửa đêm giật mình tỉnh giấc, nghe sóng vỗ tròng trành, có tiếng gì như cá vừa đớp mống...cảm giác này không dễ gì quên. 

Đôi khi, tự dưng nhớ một bờ vai lạ mà trên chuyến xe đò ngủ quên vô ý dựa vào. Bâng khuâng vì một ánh nhìn ấm áp hay một câu hỏi ân cần lúc rày em có khoẻ không. Khấp khởi mừng vui vì gặp được người đồng trang lứa cùng ghiền đọc sách, thích ăn cơm trắng với rau đồng và một nồi kho quẹt. Cũng có lúc buồn cười vì sau chuyến đi gặp lại nhau qua facebook, tôi ngõ lời khen “ anh ca vọng cổ rất hay, lâu lắm rồi mới có người cùng em ca lại bài này. Anh được đi đây đó hoài ô kê quá” thì nhận được câu trả lời “ Anh đã già rồi”. Trời ạ, có ai làm gì đâu mà lại than già, thiệt là tình… Bây giờ, chỉ vài giây là trao đổi được tin qua zalo hay facebook, vậy mà luôn có cảm giác thèm đọc một lá thơ tay. Có những đêm xa nhà, thấy lòng mênh mông trống trải, muốn gởi tay mình trong một bàn tay nóng, chạm môi vào càm của một người hay níu giữ một hơi thở thật gần… rồi giật mình thảng thốt, chợt nhận ra dù khoảng cách kia có ngắn vẫn không gần được vì tình yêu không thuộc về mình. Thì thôi vậy, nên chăng cứ tùy duyên, để được yêu thương có lẽ người ta chỉ cần sống hết lòng chứ chắc không cần phải làm mọi cách...

Trong tủ áo của tôi bây giờ, ngoài quần ống suông, áo sơ mi với áo bà ba còn có thêm vài chiếc váy. Trong cái bóp nhỏ cũng đã có mấy cây son và típ kem chống nắng. Nhiều lúc nổi hứng lên, sau khi dạo công viên tập thể dục buổi sáng về tôi liền nấu một nồi nước bồ kết cùng với lá chanh lá sả để gội đầu. Thấy lâng lâng vì mùi hương rất đổi dịu dàng đã làm cho hồn quê ngập tràn giữa phố...

Trên hai gò má tôi bây giờ dòm kỹ đã xuất hiện mấy đóm tàn nhang. Tóc đã bớt đen rồi đang chuẩn bị ngã sang màu thời gian phai dấu. Mọi người thường chọc nhau chắc là nhan sắc đã cuối mùa…Ừ, vậy đi. Dù tuổi nào đi nữa cũng không thể thiếu vắng nụ cười. Ai đó đã từng nói rằng đời cho đi cũng là đang nhận, đôi khi một nét môi hồng cũng làm cho ngày nắng xôn xao. Tự nhiên thấy nhớ nhà và nhớ nội thiệt nhiều. Lần nào về tôi cũng tạt qua chỗ Yến Em rồi tranh thủ ra vườn nằm đu đưa trên võng. Tôi lựa mấy trái nổ chín đen tự bỏ vào họng, nhắm mắt lại chờ nghe mấy tiếng bùm bùm. Những lúc như vậy nội thường ra đứng ngó tôi rồi cười thiệt là hiền “ ngủ chút đi con, gió sau hè mát lắm”.

                                                                                     Tháng 7.2019

K.T

________________

(*)  Lời hát trong tuồng cải lương Tô Ánh Nguyệt.

(**)  Một loại cây mọc nhiều ở miền tây Nam Bộ, có bông tím, trái nhỏ như ngòi viết khi chín màu đen, gặp nước thì nổ kêu tách tách, củ nhỏ có thể nấu nước uống được ( còn gọi là cây sâm đất).

 

 

 

 

 

LÊ QUANG TRẠNG

 

CHUỒN CHUỒN

 

Những cánh chuồn bay thấp, đứng yên chăm chú có thể thấy cánh của chúng mỏng như miếng bánh tráng có in hoa văn. Đôi mắt to như hai cái nón sắt úp vào một đầu máy Koler có cánh. Chúng nhiều đến nỗi không sợ người, đậu ngay vào cán len. Bọn chuồn dạn dĩ, không sợ bàn tay đang mở, hướng về chúng không xa lắm cho một cú vợt chính xác trăm phần trăm… Hồi nhỏ mình vẫn hay mơ gặp chuồn chuồn thành đàn nhiều như vầy, có khi trong mơ còn khóc nấc vì mừng. Thức dậy rồi mà trong đầu vẫn còn nghe thấy mấy lời mẹ ru, như trầm trầm xa vọng lại “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa. Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”.

Binh Nhất, cũng là người trẻ tuổi nhất đội, đi một đoạn lại thả vài hạt hướng dương xuống đất theo con đường mòn, nói vọng về phía trước cho cả đội đều nghe: “Mùa mưa tới, thế nào tụi hướng dương này cũng lên cây”. Anh bạn trẻ nghĩ rằng mình sẽ còn trở lại nơi này, cũng như chúng tôi vào mùa hai mươi năm xưa, dẫu biết rừng thiêng nước độc, bom đạn vô tình nhưng vẫn nghĩ sẽ có một ngày mình trở lại. Vì lỡ hứa với đồng đội trước lúc đi xa, với đất rừng và với Neak Tà.

Chúng tôi đang thực hiện lời hứa của mình. Trung úy năm nào giờ đã gần tuổi bảy mươi, cùng các em binh nhì ngày xưa, giờ đầu lốm đốm nhiều sợi bạc, dắt những đứa cháu lần đầu xa nhà cùng chung tâm niệm, đưa các chú các anh trở về với đất mẹ.

Rừng Pusat rộng đến mức trực thăng dừng ở trên cao vẫn không tài nào nhìn thấy giáp mé. Từ rốn rừng, hừng đông chúng tôi đã bắt đầu cho chuyến trở ra con lộ lớn, ít nhất cũng phải mất nửa ngày đi bộ. Theo con đường mòn này sẽ đến một sóc nhỏ, đếm hết không quá hai chục nóc nhà. Sóc chỉ có một ngôi chùa mới cất chừng chục năm, trông có vẻ đơn sơ, không có cổng cũng không có nhiều tháp tượng. Chứng tỏ người đến đây khai phá chưa quá lâu. Người cán bộ sở tại đi theo dẫn đường lên tiếng: “Đất này nhiều ma lắm, nên không ai dám đến ở, sóc mới được lập từ hồi biết xài điện thôi”.

Đi ra gần đến mé rừng thì bắt gặp điều anh bạn nói, những sợi điện được kéo từ đường cái vào sóc, mắc ngang qua những hàng thốt nốt, chùng xuống, gió thổi đu đưa như cái sào bị lỏng dây. Phía đầu sóc có cây thốt nốt to, có đến gần trăm năm tuổi. Cây thẳng đứng, gốc to có đến hai người ôm không giáp. Tán cao và rộng tua tủa những nhánh lá tạo thành vòm cây rộng, đứng xa trông như cây nấm khổng lồ. Bên gốc cây có mấy cái bàn cóc làm thành một quán nước giải khát. Buồng thốt nốt được đốn để sẵn, kề bên là mấy ống tre đựng nước.

Mấy anh em trẻ vác cuốc len lã mồ hôi, gặp quán nước mừng như rừng vừa được tưới cơn mưa đầu mùa, ùa chạy lại. Quán chỉ có một người trông, chắc cũng là chủ quán. Đó là người đàn bà Khmer, quần áo cũ kĩ, vắt chéo chiếc khăn Krama trên đầu. Bà ngồi phía sau mấy hộp nhựa, bên trong là mấy gói thuốc lá, bánh kẹo. Đợi chúng tôi ngồi xuống, tay bà vẫn không thôi cầm dây võng đu đưa. Hình như bà đang ru cháu.

Bà cười với chúng tôi rồi cất tiếng hỏi: “Thnốt? Thnốt tê?”. Gương mặt nhiều vết nhăn, trông khắc khổ, nhưng lại không mang vẻ ngâm ngâm và rám nắng như những phụ nữ Khmer khác. Bà chỉ tay về phía buồng thốt nốt và mấy ống tre. Tôi giơ hai bàn tay lên, co lại một ngón để ra dấu số chín. Bà gật đầu, rồi quay sang ngó vào trong, nơi có chiếc võng mắc từ cây thốt nốt to với một cây thốt nốt nhỏ. Đứa trẻ nằm trên võng độ chừng ba tuổi, da ngâm đen, tóc quăn, nghe tiếng người lạ nên nó bật dậy, ló mặt ra khỏi võng nhìn chúng tôi chăm chú. Bà chủ quán nói mấy câu gì đó nhỏ xíu, đứa nhỏ lại thôi nhìn, nằm lọt thỏm vào chiếc võng dù đong đưa.

 Anh bạn ngồi kế bên tôi hỏi nhỏ: “Đẹp hén anh Hai?”. Câu hỏi bâng quơ, nhưng tôi hiểu ý anh bạn ấy muốn nói gì. Một người đàn bà với những nét vừa lạ vừa quen. Tôi chưa thấy người phụ nữ Khmer nào đẹp như bà chủ quán này; một vẻ đẹp dung dị mà lại rất gần gũi, đập vào lòng mình một cảm xúc khó tả ngay từ lúc mới vừa gặp. Gương mặt và cử chỉ của bà làm tôi nhớ nhà… Má tôi năm xưa cũng có một quán nước ven đường, sau này vợ tôi khi đã về hưu cũng mở một quán nước nho nhỏ để có chuyện làm, đỡ buồn mà cũng có đồng vào đồng ra. Ngay lúc những ý nghĩ đó hiện ra, tôi không biết do chuyến đi suốt sáu tháng ròng làm mình nhớ nhà hay cảm giác sắp được về với gia đình làm sự liên tưởng nhạy bốc lên. Cũng hơn chục năm, tức hơn chục lần đi tìm anh em như vầy, có khi nào tôi thấy nhớ nhà như lần này đâu, quái lạ.

Chuồn chuồn bay thấp, vài ba con ngang quán. Tôi quơ tay bắt, nhưng lần này thì trượt. Chúng nhanh hơn sự vô thức của tôi. Vút bay lên cao, bay đi mất. Có tiếng hỏi, “Anh Hai có tính ghé thăm ai không, hay mình về luôn, anh?”. Tôi bỏ dỡ cơn trôi lạc, “quay về” trả lời câu hỏi, “ừ thôi mình về luôn, khu này dân họ mới đến, chắc không biết gì nhiều về quanh đây đâu”.

Người đàn bà len lén nhìn chúng tôi, như bà đang lắng tai nghe một cách rất lạ. Mỗi lần chúng tôi nói đến việc bốc cốt, bà đột nhiên có vẻ bối rối quay sang chỗ khác, tay không thôi vân vê mép khăn. Dường như bà biết tiếng Việt. Tôi nhìn bà, hỏi:

- Boong ơi, boong có biết tiếng Việt không?

Mắt bà đang từ hướng khác chợt quay lại nhìn tôi, cử chỉ thể hiện người này hiểu điều tôi đang nói. Bà ấp úng “a… a…” rồi mới nói: “Khnhom min đon tê”. Người của đội phiên dịch, “bà ấy nói là bà ấy không biết gì đâu, anh Hai”. Kỳ lạ, rõ ràng bà ta phải hiểu tiếng Việt, mới biết mình hỏi bà điều gì thì mới trả lời như vậy, sao lại nói là không biết? Tôi nhìn hồi lâu, bà quay sang chỗ khác, như sự phản ứng trước ánh nhìn tò mò. Tôi không nhìn bà nữa, uống hết ly nước, xốc lại chiếc ba lô trên vai. Cả đội đứng dậy đi về hướng chiếc xe đang đậu. Chiến sĩ phiên dịch kiêm thủ quỹ của đội ở lại để trả tiền. Nhưng hình như cuộc trò chuyện kéo dài hơn. Hồi lâu, anh bạn chạy lại xe nói với tôi:

-  Anh Hai, bà đó nói bả biết một chỗ ở gần đây, có hai ngôi mộ nữ bộ đội Việt Nam, tính sao anh Hai?

Theo quán tính tự nhiên, tôi nhảy xuống xe, cả đội cũng xuống theo đi về phía bà chủ quán. Bà vẫn ngồi y nguyên đó, tay không rời chiếc võng đang đung đưa. Tôi bắt chuyện, bà khá ngập ngừng khi tôi hỏi. Những câu trả lời không khớp với nhau, rất đáng nghi ngờ. Những chi tiết lúc nói vầy, lúc lại nói khác, có vẻ bà đang rất bối rối. Tôi nghi ngờ: “Boong có chắc không?”. Bà quả quyết rằng, ở phía cuối sóc có con đường mòn, theo con đường đó đi về hướng Tây khoảng mười ngàn thước, có cái núi Khmao. Lưng chừng núi có cái đồn cũ đổ nát và đầy rắn rết, bên trái vách đồn có hai ngôi mộ nữ bộ đội Việt Nam. “Họ chờ mấy ông ở đó bốn mươi mốt năm rồi, mấy ông nên đưa họ về để họ được nhẹ lòng” – Anh bạn dịch lại rành rọt ý bà cho tôi hiểu. Chợt ngờ ngợ ra, nhưng không thể nào nhớ rõ ngọn núi có đồn đó có phải là nơi tôi từng đi qua hay không. Thấy chưa được tin lắm, bà có vẻ vừa bối rối vừa cố muốn chúng tôi hiểu ý. Và trong lúc trò chuyện, bà cố hết sức diễn tả, bằng cách chen vào những từ tiếng Việt.

-  Phmon Khmao, Phmon… Khmon á. Núi, núi ma. Phmon… Khmon đồn núi Ma. Kon tốp. Bộ đội nữ. Pi kon tốp Việt nam. Hai người. Phmon Khmao.

Mấy chữ tiếng Việt của bà nói khá chuẩn, theo giọng Bắc Bộ. Hình như có điều gì đó bí ẩn toát ra từ người đàn bà Khmer này. Tôi hỏi lại lần nữa: “Boong có chắc chắn không? Làm sao boong biết chắc ở đó có hai nữ bộ đội Việt Nam? Có chắc đúng không boong?”. Người phiên dịch chưa kịp nói thì bà ghì giọng xuống: “Chắc…. Chắc… Chắc!” – mỗi chữ rơi mỗi lúc càng cứng rắn và nặng trịch. Bà bắt đầu giận dỗi, đôi mày nhíu lại, lườm lườm nhìn tôi rồi quay đi chỗ khác.

-  Nếu chắc chắn chúng tôi mới đào tìm.

Bà đứng phắt dậy, xua xua tay đuổi chúng tôi, đi đi, đi hết ra khỏi tao đi: “Chanh... chanh oi sngay pi yeng tov….!”.

Càng lúc bà càng hét to, càng giận dữ, gương mặt như chất chứa cả một bầu trời hận thù. Như mình vừa đụng vào một điều gì đó đau đớn ghê gớm và sâu thẳm trong bà. Tôi tưởng tượng rằng nếu có con dao trên tay, có thể bà sẽ phóng ngay về phía chúng tôi; giống như giọng điệu bà đang hét, đang nả liên thanh, đầy căm phẫn.

Người phiên dịch lùi bước, níu tay áo tôi theo:

-  Thôi, đi anh Hai, đi đi, bả quạu rồi. Để thôi có chuyện à.

Tôi bước lùi, vẫn không thôi nhìn bà đầy thắc mắc. Kỳ lạ, rõ ràng bà này biết tiếng Việt, nói sỏi nữa là. Bà ta quả quyết vậy, lẽ nào đó là đồn Ma?

Lúc đi đến xe, Binh Nhất nói, hay mình cứ đi thử, coi sao chú. Cả đội vừa chần chừ, vừa lo. Trước giờ chúng tôi chưa hề gặp “sự cố” như vầy. Cũng chưa hề thấy sự giận dỗi xua đuổi nào như vậy. Có thể bà ta chỉ giận dỗi do tôi cứ hỏi bà nhiều mà ái ngại tin tưởng. Chiến sĩ phiên dịch của đội nói, “hay để em lại nói chuyện với bà coi sao, nha anh”. Nhưng lần này không may mắn, bà vẫn cáu gắt, đuổi thẳng thừng. Thậm chí còn thủ sẵn con dao chặt thốt nốt ở bên cạnh, lăm le với đôi mắt như túa lửa. Anh bạn vừa chạy về, vừa ngoái nhìn xem bà ta có rượt theo không; lắc đầu, “không ổn đâu, anh Hai, bả nỗi điên lên rồi”. Càng khó, càng kỳ lạ làm tôi càng tò mò muốn biết thực ra vì sao bà ta lại như vậy; ngọn núi Khmao có phải là núi có đồn Ma năm xưa. Và hai bộ hài cốt ấy, phải chăng là…?

Không còn cách nào khác, chúng tôi phải đi một lối khác vào sóc, hỏi thăm người dân. Người ta nói, hãy đến tìm Mê sóc, là người lớn tuổi nhất và cũng là người trông giữ sóc này để hỏi. Mê sóc đang ngồi vót tre dưới cây thốt nốt khô đọt, nghe chúng tôi hỏi, Mê từ tốn chỉ, “đi theo con đường mòn vào trong cánh rừng Pusat khoảng mười ngàn thước, sẽ thấy núi Khmao. Lưng chừng núi còn cái đồn cũ đổ nát. Trước kia là cổ tháp hoang, bị thổ phỉ lấy làm sào huyệt. Từ lâu rồi không ai dám bén mảng lên đó. Núi Khmao từng có lính, có phỉ, đụng trận lớn lắm, người chết thối đến mấy cây số còn nghe mùi. Vong hồn còn vương vất trên đó nhiều lắm. Mấy người trong phum đi đốn củi, lên núi về đều bị vong theo đòi vợ, xin cơm, xin súng đạn… nên không ai dám lên đó cả”.

Chúng tôi nhờ Mê sóc dẫn đường đưa đi, nhưng Mê lắc đầu bảo rằng, “có cho một triệu ria Mê cũng không dám dắt đi, ma nó có súng, nó bắn vong mình chết, không đầu thai được”. Lúc này sự mường tượng trong tôi như bào thai bắt đầu tượng rõ hình hài và cựa quậy. Rất có thể đó là đồn phỉ năm xưa đơn vị tôi từng đánh dẹp, nhưng sao trên đó lại có đến hai ngôi mộ nữ bộ đội? Chính tay tôi, trước khi đi đã đào huyệt chôn một người phụ nữ gục chết trong nhà kho, chỉ một người duy nhất, có lẽ nào…?  Tôi nghe như có người bạn thân quen từ thuở nhỏ, giống hệt tôi đang đứng ở dưới chân núi Khmao hỏi vòng vọng: “Có lẽ nào…. Có lẽ nào?”

Mê sóc nói: “Khmao nghĩa là ma. Đồn đó là đồn ma, gọi vậy từ lâu rồi, từ hồi phỉ mới lên đó chôn các hình nộm có vong ma xung quanh đồn”. Tôi mừng rớm nước mắt, nắm chặt tay Mê, nói với anh em của đội, đúng rồi, đúng là đồn Ma rồi, trên đó chắc chắn có hài cốt…!

Chuồn chuồn bay từ cao là đà xuống thấp, chúng vượt qua mặt chúng tôi, hướn bay vi vút về phía Tây, nơi đó có núi Khmao và những mùa chinh chiến vùi sâu trong lớp lớp thời gian…

*

Chuồn chuồn bay, chuồn chuồn bay. Bay rồi lại đậu trên nhánh cây, cục đá. Đi từ phía sau rình, tập trung cao độ, từ từ đưa tay chầm chậm để nắm chúng từ phía sau đuôi. Chậm một giây là sẽ hụt. Bắt chuồn chuồn là một trò giải trí, rèn luyện mà cũng cả một nghệ thuật. Mỗi đứa bắt một con, lấy sợi chỉ cuộc vào giữa thân. Đầu còn lại cuộc vào ba lô để mỗi khi hành quân, chuồn chuồn bay lên như tên dẫn đường điệu nghệ.

Bờ kinh Vĩnh Tế những hôm trời chiều vắng gió, chuồn chuồn vẫn không thôi kéo đến hàng sư đoàn trên bầu trời trước khi cơn mưa đầu mùa bắt đầu rả rít. Đơn vị nhận lệnh sáng mai hành quân sớm. Tôi tháo cọng chỉ giữa lưng chuồn ra, mày bay đi, cho mày đi tìm nơi mày thích đó. Nhưng con chuồn không bay, nó có vẻ như “cạn xăng” sau một ngày bay dài cùng chúng tôi băng qua đồng Bảy Núi. Tôi đem con chuồn ra ngoài trống, chân nó vừa đặt lên da cây là đã bám chặt vào đó, mày cứ ngủ, sáng mai mầy lại bay. Tao đi đây chuồn ạ!

Khi chúng tôi qua biên giới, cũng là lúc Nam Vang vừa được giải phóng. Đại đội trưởng nói, đầu lâu Khmer đỏ đã kéo về cánh rừng phía tây Cao Miên, giáp với Thái, nhưng bọn tàn quân chúng vẫn còn rải rác trong nội địa.

Chúng tôi đi hai tuần, không vấp phải bất cứ một chống cự nào của bọn tàn quân. Chỉ thấy ven đường, những đoàn dân tản cư cùng trâu bò kéo nhau trở về phum sóc. Họ cất chòi tá túc, đói khát và kiệt sức. Đến phum sóc nào, chúng tôi dừng đến đó. Ở lại giúp họ dựng nhà, cho thuốc men, gạo và bo bo, bàn giao cho chính quyền mới trước khi đơn vị di chuyển lên tuyến trên.

Ngày thứ mười tám, đơn vị dừng chân gần sóc Sô Nôm. Trinh sát cho biết, sóc này còn chứa tàn quân. Chúng tôi đóng quân cách sóc chừng hai cây số. Ban ngày ra giúp dân tản cư trở về dựng nhà, đập lúa, dò xét xem họ giấu tàn quân ở đâu. Nhưng trước mắt vẫn là giúp dựng nhà và cảm hóa, để những người lính cũ không móc nối lại với đám đầu lâu đã kéo về phía Tây. Sóc vừa cắt vét đợt lúa còn sót lại, lương thực chủ yếu vẫn phụ thuộc vào khoai rừng độn với bo bo chúng tôi cấp cho. Đói quá, đám trai lén rủ nhau vào rừng đào củ, bẫy thú.

Mấy ngày đầu thú trúng bẫy nhiều, cả phum như bắt đầu có lại sức sống. Con heo gần trăm ký bị sụp bẫy được kéo về, vừa kéo nó vừa hét, đến khi gần chết rồi mà giọng vẫn hung hăng và lỳ lợm lắm. Cả sóc giết thịt, chia nhau bộ lòng, còn heo thịt thì đem ra giữa sóc, đốt lửa nướng. Lửa cháy, heo phồng da lên vàng khấy, Mê sóc cầm cây mác nhọn đâm vào, mỡ tươm ra chảy xuống than kêu xèo xèo, mùi thơm bay cả trăm thước. Trong cơn đói, ai nấy ngửi mùi thịt nướng cũng chảy cả nước miếng, kéo đến quanh đống lửa than như đi coi hội.

Nhưng chỉ mấy hôm sau, “rừng đã giận dỗi” – Mê sóc nói vậy khi bắt đầu có người đi rừng bị thương nặng lê lết trở về. Một số khác không về thì không tìm được xác. Nhìn vết thương, chúng tôi biết đó là dấu đạn bắn, không phải dấu cọp vồ như Mê và cả sóc nghĩ. Chứng tỏ trong rừng Pusat này còn ẩn trú tàn quân.

Thông tin được gửi về trung đoàn. Đại đội chúng tôi được lệnh phải tiếp tục ở lại với sóc, canh chừng nghiêm ngặt, cho tiểu đội trinh sát mò sâu vào rừng.

Mấy hôm sau, Mê sóc dắt tôi đến gặp một ông Lục khá sỏi tiếng Việt sống ẩn dật ở bìa rừng. Lục vừa nói vừa có vẻ sờ sợ, giọng ông nhỏ xíu, “không phải ông cọp đâu, đó là thổ phỉ đấy. Bọn nó là Chúa núi Khmao. Núi đó toàn là ma, không ai dám ở cả, chỉ có bọn phỉ ở thôi. Đám phỉ này trước đây là lính Khmer đỏ ở nhiều nơi. Không hiểu sao chúng lại bỏ đơn vị trốn vào rừng, rồi chạy lên núi chiếm lấy khu tháp cổ, làm căn cứ ở đó”.

Nắm được tình hình, một đội trinh sát mò sâu vào núi Khmao. Quả thật khó mà đoán ra đám người đó là lính hay là phỉ. Chúng có súng ống, quân phục hẳn hoi, nhưng cách sinh hoạt không giống lính Khmer đỏ. Mấy phum ở phía tây ngọn núi cũng sợ chúng không thua gì sóc Sô Nôm. Không ai biết đám người đó sống ra sao, chỉ biết có một đường dây, thông qua một đường hầm bí mật. Ban đêm chúng cải trang rất tài tình, theo đường hầm ra ngoài trao đổi với một đám người lạ mặt tại nhánh sông, cách núi chừng ba bốn ngàn thước. Từ ống nhìn, dễ dàng thấy những cây thuốc phiện được trồng ven sườn đông của núi. Mê phum nói, “đám phỉ đó ghê lắm, không ai đánh được đâu, chúng luyện thành tà thuật Thiên Linh nên có cả Thiên Linh cái, theo trợ độ. Miễn ở phum lục đục chuẩn bị kéo lên là chúng biết, sẽ có cách gián phạt, đau bệnh chết chóc bất tử. Bởi vậy mà không ai dám bén mảng lên đó, gọi miết thành quen, đồn Khmao (tức là đồn ma)”.

Sau đợt thanh niên của sóc vào sâu trong rừng bị bắn lết về. Cứ đêm đêm, từ núi phát sáng mấy loạt súng bắn về phía sóc Sô Nôm. May mắn là không ai bị thương, nhưng tinh thần của sóc hoảng loạn. Chắc hẳn chúng phải được trang bị súng ống hẳn hoi, có cả cối, đại liên… mới dám có động thái dằn mặt các sóc và phum lân cận như vậy. Mấy hôm sau, trâu cày của Mê sóc đi ăn lạc vào rừng, bị bọn phỉ kéo xuống mổ thịt nham nhở. Mê sóc rung rung chấp tay vừa lạy vừa nói, “mấy chú cứu chúng tôi, cứu chúng tôi, bọn phỉ lộng hành quá sức rồi, cứu chúng tôi…”.

Đám phỉ này rất đáng nghi, là tàn quân, lính được ém lại hay chỉ là thổ phỉ? Nhưng dù sao, đóng quân ở gần chúng, không đánh chúng thì thế nào chúng cũng đánh mình. Ngoài ra trước khi rút quân đi, phải bảo đảm an ninh trước mắt cho cả sóc. Nhiều phương án được đặt ra. Trinh sát báo cáo, xung quanh đồn được cài rất nhiều mìn và bẫy chông. Trong đồn có khoảng năm bảy mươi tên, chúng đều mang theo súng. Quanh đồn được bao bọc bằng một lớp tường đá lổm chổm, có cả giao thông hào và lô cốt. Địa thế rất hiểm yếu, nếu đánh vào có thể bên ta sẽ có thương vong. “Hay là nhờ pháo của đơn vị bạn đóng gần đó sang bằng?”. Nhưng trinh sát tham mưu không nên dùng pháo phá hủy, vì đó là một ngôi chùa tháp cổ, bị chúng chiếm dụng; ngoài ra trong đồn có tiếng trẻ con, có thể bốn năm đứa trẻ, có cả phụ nữ và người già.

Cuối cùng cả đại đội thống nhất kết hoạch, chờ mưa. Khi mưa vừa tạnh sẽ ập vào đánh. Đơn vị xin ý trung đoàn và được duyệt phương án đánh sập sào huyệt đám phỉ này, một trung đội trinh sát, đặc công được bổ sung ngay hôm đó.

Đúng như kế hoạch. Khi mưa đêm vừa bắt đầu rơi hạt. Đơn vị bủa vào rừng ém quân. Đợi khi mưa vừa tạnh thì nổ súng. Khi chúng tôi vào đến sào huyệt của chúng, mấy căn nhà tre lá đang cháy, tiếng kêu khóc của trẻ con, tiếng của đàn bà, tiếng rên của những tên phỉ bị thương. Đơn vị cán bốn tên bị thương ra ngoài. Tên phó đồn chết tại chỗ, trên tay vẫn còn cầm băng đạn chưa lắp kịp vào súng. Tên chúa đồn dắt toán phỉ còn lại chạy về phía rừng. Chúng tôi bắn theo tới tấp, một đơn vị từ dưới núi được bủa lên để diệt sạch số phỉ từ núi chạy xuống. Chắc chắn chúng không thoát một mống nào.

Tôi quay vào đồn để thu gom súng ống. Nhưng đột ngột từ phía nhà kho, có tiếng súng bắn ra liên thanh. Tiếng nổ rất hoảng loạn, và dường như không có chủ đích. Rất có thể còn một đám phỉ trốn sâu trong đồn. Chúng tôi nhả đạn tới tấp vào ngôi nhà kho. Đến khi không còn thấy động tịnh gì từ phía đó nữa thì mới từ từ mò vào. Không có tên phỉ nào, ngoài người phụ nữ Khmer nằm sấp, tay phải cầm cây súng ngắn, tay trái đặt trên lưng đứa trẻ nằm úp mặt trên vũng máu. Tôi bật đèn pin nhìn quanh và dò sét. Có tiếng rên nhè nhè từ bồ lúa, bật bồ lúa ra, tôi chỉa súng vào, một người phụ nữ Khmer khác đang ôm khư khư ôm khẩu súng đã hết đạn. Một chiến sĩ vào, kéo cô ta ra, lấy khẩu súng ra khỏi tay một cách dễ dàng. Một tay của cô ấy đã bị thương, máu rịn ra ướt cả vai áo. Hình như người phụ nữ này đang mang thai, bụng đội áo nhô lên, tay ôm bụng thở những hơi thở khó nhọc.

Tổ quân y nhanh chóng vào băng bó, phát hiện đứa trẻ nằm úp trên vũng máu vẫn còn sống. Sơ cứu hồi lâu nó mới thút thít khóc. Người phụ nữ còn sống, với tay còn lại níu đứa bé vào lòng. Tôi đưa đứa bé đến. Cô ta nhìn tôi, đôi mắt sâu hoắt. Phiên dịch vào, hỏi rằng cô là vợ phỉ ư? Cô ta trả lời bằng tiếng Việt như hắt vào chúng tôi, “Ừ, bây muốn gì?”.

Rõ ràng chất giọng Bắc Bộ rành mạch, không lơ lớ như cách người Khmer nói tiếng Việt. Hai ba chiếc đèn pin cùng được bật lên, lúc này tôi mới nhìn rõ được chị. Gương mặt bầu bầu, trắng trẻo, độ chừng hơn tôi khoảng năm bảy tuổi. Chị bận bộ quần áo người Khmer, vai có một vết máu thấm đỏ. Tôi hỏi: “Chị là người Việt Nam à?”. Chị ta bắt đầu gắt đanh: “Ừ, ngày trước tao là Việt Nam, rồi sao, muốn giết cứ giết đừng hỏi nhiều, đồ khốn”.

Lúc này sự việc càng thêm căng thẳng. “Tại sao chị lại ở đây?”.

-  Mầy muốn biết. Thì trước khi chết tao sẽ kể tội cho tụi mầy biết. Chị em tao bỏ trường bỏ lớp, theo lời kêu gọi xung phong vào Nam. Rồi sao, tụi bây đưa tao lên biên giới đào kênh. Tụi lính Pôn Pốt lén qua lùa bắt tụi tao đi sâu vào đất nó mấy năm trời vẫn không ai giải cứu. Cứ tưởng sẽ bị chúng hãm hiếp, giết chết. Nhưng may cho hai chị em tao là trong đám thú cũng có mấy đứa có máu người. Bọn nó chỉ bắt hai đứa tao về làm vợ, thương yêu tụi tao. Cung phụng tụi tao như vua chúa.

Tôi nghe chị nói, giọng gắt như những nhát dao, bén ngót cứa vào lòng người nghe và cả lòng chị, những vết cứa tươm máu. Giọng mỗi lúc mỗi nghèn nghẹn, đến khi chị không nói được nữa, lặng đi hồi lâu, tôi hỏi:

-  Chiến sự xảy ra, không ai muốn cả chị à. Biên giới đột ngột bị đánh đổ máu. Chị nhìn đi, để lên đến đây giải cứu chị và những người dân vô tội, anh em mình đã chết dọc đường biết bao nhiêu người. Chị đừng hờn trách như vậy. Thôi bây giờ, chúng tôi đưa chị xuống núi, rồi sẽ giải quyết để chị về Bắc với gia đình.

Nghe chưa dứt lời, chị hét vào mặt tôi:

-  Không, mầy nhớ đó, không bao giờ. Không bao giờ tao về. Không… bao… giờ…

Im lặng rất lâu, tổ quân y đang đem sữa đến cho đứa bé. Tiếng hét của chị bắt đầu chùng xuống, nghèn nghèn, đổi cách xưng hô:

-  Cậu biết nhục nhã nó như thế nào không. Tôi coi như mình sa chân, tôi không muốn ai đánh ai cả. Chị em tôi đã khuyên chồng bỏ chuyện đánh nhau, vào sâu trong rừng mà sống, mà nuôi dạy con cái. Hai năm qua, tôi cứ tưởng mình đã có một gia đình bình an và hạnh phúc. Vậy mà mấy cậu cũng không tha. Bây giờ chồng tôi chắc cũng đã chết rồi, nhà cửa, cơ nghiệp tan hết rồi… Cậu kêu tôi về Bắc để làm gì hả cậu? Tôi tự tử mà chết…

Chị nói tiếp, “cậu có nghe mùi máu không, mùi máu tanh nồng của chồng con tôi đó, tôi chết ở đây chứ không đi đâu cả”. Tôi nghĩ kĩ rằng, nếu mạnh tay bứt chị ra ngay lúc này không phải là giải pháp tốt. Anh em đem đưa chị bộ đồ, “chị thay bộ bồ mới, thay luôn đồ cho cháu. Để bận quần áo cũ vươn mùi máu thì không được đâu”. Chị nhìn tôi rất lâu, đôi mắt tự dựng chảy dài hai dòng nước mắt. Tôi giao chị lại cho một chiến sĩ canh giữ, quay ra ngoài.

Lật xác người phụ nữ vắng số ra, chị bị một vết thương ở đầu, ngay màng tang. Đôi mắt nhìn chếch về một phía, đó là phía đứa con chị nằm trên vũng máu, có lẽ mẹ nó ngã đột ngột, bàn tay trúng trên lưng nên làm đứa bé bất tỉnh. Tôi vuốt mặt hai lần vẫn không sao làm đôi mắt chị khép lại. “Chị à, tôi không hại cháu bé đâu. Tôi sẽ đưa cháu đến nơi nuôi dưỡng đàng hoàng”. Bàn tay tôi xuôi mặt, mắt chị khép lại, bình yên: “Chị, nhẹ nhàng mà đi, nha chị!”. Tôi lấy khăn lau vết máu bê bết trên mặt chị. Lấy tấm tăng quấn lại kỹ lưỡng rồi anh em bê chị ra phía vách đồn, đào một cái huyệt để chôn. Lúc lấp đất lên mộ, tôi thấy một vì sao phía bầu trời như vừa bật sáng. Đêm vẫn tĩnh mịt, một vì sao có sáng được đêm không?

Chiến sĩ canh giữ người phụ nữ và đứa trẻ trong nhà kho chạy ra báo, “anh Hai, chị ta bồng hai đứa nhỏ đi mất rồi”.

-  Sao lại đi mất, chú canh chị ta sao lại để chị ta đi mất? – Vừa nói tôi vừa chạy vào nhà kho. Chiến sĩ cũng chạy theo, vừa chạy vừa nói hấp tấp.

-  Chị ấy kêu em ra đóng cửa để chị thay đồ, em thấy nhà kho kín mít, đâu có lối nào ngoài cửa đâu, mà sao trốn đi được. Khi lâu quá không thấy chị lên tiếng, em vào thì chị ta ôm đứa nhỏ chui cái lổ chỗ bồ lúa đi mất rồi.

Tôi vào nhà kho, lấy đèn phin rọi theo dấu chân nhưng đến phía cuối hàng rào thì mất dấu. Cả đơn vị túa xuống các nẻo quanh núi tìm nhưng đến sáng hôm sau khi mọi người đã mệt lừ mà vẫn không sao tìm thấy chị được. Rừng thiên nước độc, mìn gài khắp nơi và cả cọp beo. Tôi rùng mình nghĩ đến đứa trẻ và cái thai chị mang trong bụng. Nhìn về phía mây trời, những cánh chuồn chuồn lưa thưa, bay lên cao, cao đến khi không thể nào nhìn thấy được.

Trung đoàn có lệnh, chuẩn bị hành quân chi viện cho trận đánh mới. Tôi bước đi về phía dòng Mê Kông, mắt vẫn không thôi nhìn về phía sau lưng là núi Khmao. Tôi cứ mường tượng một người phụ nữ đứng trên ngọn núi, bồng đứa nhỏ đang nhìn theo chúng tôi…. Và mùa chinh chiến ấy kéo dài, những chuyến đi vào sinh ra tử, những chuyện sống chết như những chiếc lá rừng rơi đầy ký ức tôi. Chúng như chồng chất đầy ngọn núi Khmao và người đàn bà dắt tay hai đứa nhỏ nhìn theo tôi…

*

Đây chính là đồn Ma. Hai ngôi mộ, ở đâu là chị? Chính tôi đã chôn chị ở nơi này. Mớ quần áo cùng mấy món son phấn hàng mã này, sau nhiều năm tôi mới đem đến đây cho chị được. Tôi dỡ mấy viên đá chồng chất lên nhau, hình như có ai đó lên đắp đá thành hai nấm mộ. Theo ngẫu nhiên, nấm mộ bên trái đào trước, sau hai lớp len thì tới chị. Tấm tăng cao su giòn như bánh tráng, mở tấm tăng ra, mấy mẩu xương nằm trong bộ thổ cẩm. Sọ đầu vẫn còn quấn chiếc khăn Krama một vòng quanh. Ở bên trái thái dương có một đầu đạn nhỏ, gâm sâu vào xương. Tôi nhẹ nhàng tháo ra, thận trọng như sợ chị đau. Tôi lấy miếng đạn ra, bỏ lại lòng đất cùng nắm muối, rồi lấp đi.

Ngôi mộ thứ hai nằm sâu đến ba lớp len, đất lẫn mớ sà bần đá con và cát. Len sấn xuống một cái mạnh thì nghe có tiếng “cốc”. Tôi nghĩ đã đụng xương, bỏ len qua bên, ngồi xuống mò tay vào dỡ từng lớp đất lên. Nhưng bất giác khi mò sâu xuống, đụng tấm cao su thì thấy một vật cứng, tròn như một hộp cá mòi dẹp. Từ từ lấy lên, mồ hôi toát ra lạnh cả người, từ từ trấn an mình lại, nói với đồng đội đứng kề bên:

-  Tâm, em nói mấy anh em né ra, mìn… Ríp…

Tôi không lạ gì với chiêu chôn xác rồi gài mìn lại của bọn Pôn Pốt. Loại mìn này chỉ cần 1 ký lô là đã nổ. Chỉ sơ sẩy một chút thôi cũng đủ toi mạng. Đang bối rối không biết xử lý sao, thì tôi phát hiện hướng mũi tên màu đỏ đang chỉ về chữ S. Thầm thì lời nằm lòng hồi đi chiến trường, “A chết S (ếch) sống, a chết ếch sống, a chết ếch sống”. Tôi thở ra, vậy là không sao, trái mìn vẫn chưa bật sang chế độ mở. Tôi đưa trái mìn cho người cán bộ bên bạn để nộp cho quân khí xử lý. Tiếp tục dỡ đất, từ từ lấy miếng tăng gói kỹ đưa lên trên. Vừa tò mò, vừa hồi hộp dỡ từng miếng xếp của tấm tăng đã mục giòn ra. Bên trong là một bộ đồ bà ba đen được may từ lụa Hà Đông, trong bộ bà ba là mấy khúc gỗ đã mục gần hết. Một đôi dép râu, một cái nón tay bèo, một khẩu súng vẫn còn nguyên băng đạn và một tấm khăn rằn xếp vuông. Mở mấy lớp khăn ra, bên trong là một hủ thuốc Pi đậy kín miệng bằng một miếng gỗ. Bên trong là một tờ giấy con, ghi mấy chữ nhỏ xíu, nhìn thật kỹ mới đọc ra được: “Nguyễn Thị Sương - 1953 - Hà Nam Ninh - 25 tuổi”.

Tôi ngồi lặng im, cả đội cũng lặng im. Hồi lâu, Binh Nhất hỏi: “Tính sao giờ, bác Hai?”. Tôi nhìn mớ di vật bày trên đất: “Mình cứ lấy hết, gói lại đem về”. Chúng tôi sắp xếp bộ hài cốt không xương vào túi đựng hài cốt liệt sĩ như bao lần chúng tôi đã làm. Nhưng lần này mỗi người mang một tâm trạng đặc biệt, bồi hồi rất riêng.

Trên đường đem hai bộ hài cốt trở về, tôi chợt nhớ đến bà già bán nước ven đường với muôn ngàn câu hỏi. Thắc mắc ấy như móc vào lòng tôi, vừa tò mò lại vừa muốn tìm hiểu tận cùng cho ra lẽ… Nhưng không biết rồi bà có còn giận chúng tôi hay không?

Tôi vác trên vai chiếc túi màu đỏ đựng bộ hài cốt, ra đến đầu sóc lúc trời của ngày hôm sau đã đứng nắng. Ở gốc cây thốt nốt, người đàn bà vẫn ngồi đó, vắt chéo chiếc khăn Krama trên đầu, tay không thôi đưa võng. Bà nhìn về phía chúng tôi, đôi mắt sâu và rất sáng, như long lanh. Những cánh chuồn không thôi bay là đà, làm ánh nhìn ấy như chiếc tivi bị nhiễu hột. Bất giác bà không nhìn nữa, quay sang đứa cháu, vừa đưa võng vừa ru:

Kon tom rui hơ.

Kon tom rui hơ tiêp mêc plieng.

Kon tom rui hơ kpus mêc kđao.

Kom tom rui hơ stec stơ, mêc sro tôm…

Anh bạn phiên dịch nhìn tôi, cười: “Bà ấy đang ru cháu bài con chuồn chuồn đó anh Hai”. Tôi gật đầu, ừ, tuổi thơ tụi anh cũng hay hát mấy câu đồng dao như vậy:

Con chuồn chuồn.

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa.

Chuồn chuồn bay cao thì nắng.

Chuồn chuồn bay vừa thì lâm râm…

 

L.Q.T

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỒ VĂN

 

MÙA CẤY CUỐI CÙNG

 

Thằng Tư Ghẻ đang ngủ say bỗng giật mình thức dậy. Nó không thèm lấy tay quờ quạng xung quanh cũng đoán biết chị Hai của nó đi đâu mất tiêu rồi. Chị của nó cỡ này tự dưng điệu lên thấy rõ. Đi cấy lúa tận trong Liên Tám vậy mà rảnh là bắt xe ôm chạy xuống chợ Mỹ An mua đủ thứ phấn son, thuốc tẩy da, tắm trắng. Đợi lúc chị của nó đắp mặt nạ chỉ còn ló hai con mắt to đùng, mà công nhận là đôi mắt của chị Hai đẹp thiệt, long lanh, óng ả đen huyền, thẳm sâu chứa đầy cảm xúc đến mê hoặc, thằng Tư chọc:

- Chị Hai đi cấy mướn cho người ta, tối ngày úp mặt xuống đất, nhổng đít lên trời mà bày đặt “tha són sứt phân”, í trời nói lộn “tha phấn sứt son” chi vậy?

- Kệ tao mày, con nít biết gì mà nói.

- Chị làm đẹp cho mấy con dế, con vịt, mấy con ốc bưu vàng nó chết mê chết mệt, chết luôn, khỏi cần xịt thuốc chứ gì.

- Ừ, vậy đó rồi sao. Dù gì còn đỡ hơn em. Nhìn lại đi, cái đầu ghẻ chóc không. Đến nỗi con nhỏ Út Chí con bà chủ đất không dám lại gần.

  Thằng Tư Ghẻ im ru. Cục tức dồn lên cổ họng, máu chạy rần rần làm đỏ thêm mấy mụt ghẻ ở trên đầu của nó. Kì lắm, ai mà nhắc đến cái xấu của Tư Ghẻ càng nhân lên nỗi đau, đụng chạm đến một thứ gì thiêng liêng, hơn cả chửi cha, mắng mẹ của nó. Chị Hai biết được khuyết điểm này của Tư ghẻ nên chọt một cái cho nó tắt đài luôn.   

  Chị Hai của thằng Tư Ghẻ còn gội đầu bằng bồ kết ngoại, nghe nói một chai trên cả trăm ngàn, gần bằng cả ngày công cấy lúa chứ ít ỏi chi đâu. Có lần nó vô xóm kiếm con Út Chí rủ đi hái rau muống nấu canh chua,  liếc thấy bà chủ đất cũng xài thứ dầu gội đó. Người ta là chủ cả, đất đai nhiều, còn chị Hai chỉ làm mướn, giăng tấm ny-lông làm mái lều, lót rơm làm chỗ ở tạm qua mùa cấy lúa mà cũng bày đặt xài sang. Nhưng mùi tóc của chị Hai tỏa ra một thứ hương thơm quyến rũ lạ thường. Theo con Út Chí nói là má nó bảo rằng con gái đến tuổi trưởng thành mới có thứ mùi đó. Riêng má thì già, còn con thì đầu toàn chí đực, chí cái thì làm sao có được thứ mùi như con nhỏ Hai cấy lúa mướn cho gia đình mình. Hôm cậu Ba con bà chủ đất đi ngang ruộng, thẫn thờ đứng lại ngoài bờ đê rất lâu. Bà chị cạnh bên tưởng cậu chủ mê bài hát “Hương tóc mạ non” phát ra từ chiếc ra-đi-ô nên dừng cấy, đưa tay vô túi áo vặn nút âm thanh to lên thêm: Mùi mạ non hương tóc em biết bao kỷ niệm. Nhắc lại thấy thương nghe thật buồn. Chị Hai thằng Tư trùm khăn kín mít, chỉ để lộ hai con mắt như lúc làm mặt nạ, ngước lên thấy cậu Ba nhìn chằm chằm vào mình. Phát hoảng nên cấy mấy bụi lúa lịa xịa, xiêu vẹo không theo hàng, theo lối như người ta. Quan sát kỹ thì nó giống như hình ảnh của máy đo điện tâm đồ biểu thị nhịp đập bần bật, mạnh mẽ liên hồi của con tim trong lồng ngực cô gái đương thèm khát chuyện lứa đôi. 

Thằng Tư Ghẻ thức dậy chỉ ngửi thấy mùi phân vịt, mùi thui thúi của xác động vật hòa với rạ rơm, mùi hăn hắt của phân bón thuốc trừ sâu,…là đoán biết chị của nó không còn ở trong mùng. Hồi chiều trong bữa cơm, chị Hai cạo sạch đáy nồi, gắp mấy khứa cá lóc đồng kho khô còn lại bỏ đầy vô chén của đứa em trai mình, buồn buồn nói:

- Ráng ăn hết đi em. Đây là bữa cơm cuối cùng ở đất Mỹ Đông này.

- Chị nói vậy là sao, em hông hiểu ?

- Thì chị em mình cấy xong công đất cuối cùng ở ngoài lung là hết ruộng rồi. Cuốn gói về quê thôi. Vậy cũng không biết. Chị muốn cú vô cái đầu ghẻ của em cho hơn cả đã ngứa bây giờ.

- Hơn cả đã ngứa là gì vậy Hai? Mà hết ruộng cấy năm nay thì năm sau quay lại cấy tiếp. Chứ còn chị nói ăn bữa cơm cuối cùng nghe có vẻ nghiêm trọng lắm.

- Hơn cả đã ngứa là đau đớn đó thằng…đầu ghẻ. Năm sau người ta có cần mình nữa đâu mà qua đây.

  Thằng Tư Ghẻ thấy chị Hai lấy tay nhá nhá nên buông đũa, bỏ chén xuống đất ôm đầu sợ chị nó cú một cái đau điếng, nhăn nhăn cái mặt hỏi tới:

- Sao kì vậy? Hồi em biết tới giờ, năm nào cũng theo má, theo chị sang đây cấy lúa mà.

- Thì ngày xưa người ta cần mình. Còn bây giờ cuộc sống càng đổi mới, người ta không cần những người cấy lúa như chúng ta nữa.

- Mình cấy lúa có tiếng. Ở đây, ai cũng khen chứ bộ.

- Thằng này. Hỏi hoài. Những mùa sau, nơi nầy người ta quy hoạch cánh đồng mẫu lớn, san mặt đất bằng tia la-de, không còn ruộng cạn, đồng sâu. Cấy lúa, thu hoạch lúa bằng máy móc. Chăm sóc lúa bằng công nghệ ba chấm tròn, bốn chấm không gì đó.

- Trên đầu em có trên một chục cái chấm mà em chưa nói nè. À, sao chị biết hay vậy?

- Nghe cậu Ba con bà chủ đất nói. Người ta đang học kỹ sư nông nghiệp chính quy ở Cần Thơ sắp ra trường rồi đó.

- Thấy chưa. Lộ hết rồi nghen. Gần đây cái gì cũng cậu Ba. Một cậu Ba, hai cũng cậu Ba. Em về méc má cho coi.

- Đâu chỉ có cậu Ba, cả xóm này đều nói vậy mà. Tại tối ngày em cứ rảnh là vô kiếm con gái út bà chủ chơi nên biết gì. À, tại bực bội vì em cứ theo dõi chị hoài, nên chị nói con Út Chí chê cái đầu ghẻ của em. Chứ thật ra chị thấy nó cũng khoái em dữ lắm.

  Tư Ghẻ định thắc mắc là công nghệ bốn chấm không tròn méo, thẳng hàng thẳng lối hơn mấy cái chấm thẹo mọc lộn xộn trên đầu của nó đến cỡ nào mà dám ngang nhiên cướp đi công việc cấy lúa của chị em nó và bà con xứ Bảy Núi từ đời ông cố lũy đến giờ. Nhưng khi nghe nhắc đến hai tiếng Út Chí làm Tư Ghẻ im ru. Nó gục đầu xuống đất, mĩm mĩm cười, và cơm lia lịa vô miệng. Chỉ một chốc đã không còn một hột nào trong chén. Rồi đứng dậy, phủi đít, chạy vèo vô hướng nhà bà chủ đất ở trong xóm cặp dòng Kinh Ông Hai. Bỏ chị nó thui thủi một mình trong căn lều cất tạm, lui cui dọn dẹp, thu xếp gọn gàng mấy vật dụng cần thiết. Chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến hồi hương về Thoại Sơn, vùng Bảy Núi ngày mai. Bầu trời đang rực nắng bỗng chuyển sang màu xám xịt, tối đen. Ngoài kia cánh đồng quạnh hiu, vi vu gió thổi. Vọng vang tiếng ếch nhái gọi bạn tìm bầy, sau một ngày tan tác chia ly bị tụi máy cày, máy xới và đoàn người cấy lúa làm xao động cả đất trời. Bất chợt chị thằng Tư Ghẻ cất giọng ngâm nga câu hát ru nghe buồn não nuột: Người ta đi cấy có đôi/ Còn tôi đi cấy mồ côi… một mình.

*

  Nhiều mùa cấy rồi, má thằng Tư Ghẻ phải ở nhà do tuổi già sức yếu. Thời buổi này sâu rầy, dịch bệnh dữ lắm. Chỉ cần xuống mùa chệch thời gian một chút là tiêu đời. Cho nên việc cấy lúa cũng phải rớp rẻn. Để kịp thời vụ thì phải làm cả ngày lẫn ban đêm, hết cánh đồng này, dời ngay qua cánh đồng khác. Má không đi nhưng vẫn kêu thằng Tư theo cùng chị Hai nó. Chị của Tư Ghẻ năn nỉ: Má để thằng Tư Ghẻ ở nhà hủ hỉ với má cho vui. Nó mà cấy với kiết được gì. Tối ngày nhong nhong vô xóm làng người ta, làm con phải mắc công đi tìm bắt nó về.  Nhưng bà ấy nhất quyết kêu thằng Tư đi cùng: Nó qua bển giúp con xách mạ, kẹt kẹt cấy không kịp kêu vô ruộng, nhét thí đại bụi nào, đỡ bụi nấy. Dần dần rồi cũng sẽ quen thôi. Nghề dạy nghề mà con. Nói gần cả đời cũng không sai, nhưng chính xác là má thằng Tư gắn cả thời thanh xuân, tuổi tràn đầy sức sống với cái nghề cấy lúa. Bà không sang được Tháp Mười để thi triển ngón nghề mà mình đã cực khổ, vất vả tinh luyện khiến bà nhớ nghề, nhớ đất, nhớ những nơi mà mình đã trải qua. Nhưng ẩn trong đó là nỗi lo lắng cho đứa con gái đang trong độ tuổi yêu đương của bà. Trong dân gian lan truyền câu ca dao quen thuộc: Tháp Mười đi dễ khó về/ Trai vô lấy vợ, gái mê theo chồng. Vùng đất ấy có một sức hút lạ thường. Cho nên, với con Hai má nói vậy, còn mỗi khi tiễn đoàn cấy, bà luôn kề tai nói nhỏ với Tư Ghẻ một câu quen thuộc, đến nỗi mới cất lời: Con hãy theo sát chị Hai mày…là nó chêm theo ron rót: Nếu có chuyện gì bất thường, báo ngay cho má biết nghen thằng Tư.

   Tư Ghẻ ngồi bần thần một mình trong lều, ngóng ra mấy miếng ruộng ngoài lung thấy ánh đèn giăng sáng nối thành một dãy dài, đoán rằng chị Hai đang theo đoàn đi cấy đêm. Cấy đêm được cái mát mẻ, từ đầu hôm đến khoảng gần ba bốn giờ khuya là xong một công tầm cắt. Nhưng ngặt nỗi là phải chống chọi với tụi muỗi mòng và chiến đấu với cơn buồn ngủ. Có người muỗi cắn chịu không nỗi phải lấy đất sình trét vô mặt, tay chân. Cấy xong không kịp vô trại ngủ, chui thí đại vào đống rơm ở bờ đê, gò mả lạn, lấy rơm phủ dày lên người làm một giấc không biết trời trăng mây nước chi cả. Báo hại người thân kiếm hoài không thấy, tưởng bị ma giấu, xua mấy con chó mực, chó phèn sủa vang cả cánh đồng vẫn không phát hiện. Cuối cùng, kêu mọi người lục tung mấy đống rơm mới thấy có người nằm trơ ra như cái xác không hồn. Lấy tay vỗ vỗ vô mặt ba bốn cái mới chịu lồm cồm bật dậy, chạy hoảng, nói chuyện lung tung giống y chang người bị ma nhập. Chị Hai thằng Tư đêm nào làm mặt nạ thì để đó luôn khi ra đồng, khỏi mất công trét sình bùn. Thợ cấy đêm còn phải trang bị một cái đèn pin có dây nịch chặc lên trên đầu để soi sáng, làm chuẩn, cấy lúa mới theo hàng, thẳng lối. Thằng Tư ghét nhất thứ dụng cụ này. Nó càng làm nực nội, chảy cả mồ hôi, dẫn đến ngứa ngáy mấy cái mụt ghẻ ở trên đầu. Ngứa thì phải lấy tay dính mạ non, đất bùn gảy gảy. Ngửi thấy mùi sình lẫn mùi tanh tanh của thịt da con người, bầy muỗi bâu lại hè nhau cắn sưng cái đầu còn ít tóc nhiều ghẻ của nó.

  Chợt nhớ đến lời má dặn, thằng Tư quăng mền, tung mùng bước vội ra khỏi mái lều. Phải đi ra ngoài ruộng với chị Hai của nó. Trời tối thui. Sương quánh đặc. Tư Ghẻ chỉ mặc có chiếc áo sơ mi ngắn tay với cái quần cộc mà hồi chiều vô chơi với con Út Chí trong xóm. Gió thổi nhè nhẹ từng cơn, lòn vô mấy chỗ rách, khều da thịt thằng bé. Nó rùng mình liên tục, lọ mọ dò đường theo lối đê. Thằng Tư vừa đi vừa lẩm bẩm: Biết trời lạnh như thế này thì lấy chiếc áo dài tay của chị nó choàng thêm bên ngoài. Lúc tung mền, xếp gối, thằng nhỏ phát hiện chiếc áo ấy được nhét dưới đầu nằm. Có thể chị Hai nghĩ ra cách này nhằm đánh lạc hướng cho Tư Ghẻ ngửi thấy mùi, cứ tưởng lúc nào người chị của mình cũng nằm gần bên, nên an tâm mà ngủ mê đến vậy. Trong đêm tối mênh mông, trong tay không có ngọn đèn, thằng Tư Ghẻ chỉ biết nhắm theo hướng dãy ánh sáng của đoàn cấy đêm. Những ngọn đèn nhỏ li ti như những vì sao mọc cuối chân trời xa tít. Nhưng ở phía sau hè nhà bà chủ đất cũng lại có một ngôi sao nữa thì phải. Thằng Tư Ghẻ lấy tay dụi dụi mắt cả chục cái khi thấy luồn ánh sáng phát ra từ vì sao cô độc, lẻ loi kia quá kỳ quái, đầy ma mị: lúc mờ lúc tắt, ngã nghiêng, xiêu vẹo, khi rọi thẳng vọt lên bầu trời, khi dần hạ thấp, chiếu xuống mặt đất, rồi tối sầm lại. Mất tiêu. Thằng bé vả cả mồ hôi, vắt cả óc mới nhận ra là nó xuất phát từ bụi chuối ma. Vậy kia là ngọn đèn ma. Hỏng lẽ trên đời này có ma thiệt. Tư Ghẻ hoảng hồn, ôm ngực, chựng người do dự.

  Có lần chơi nhà chòi với con Út Chí. Nó chỉ ra bụi chuối to đùng ngoài hè rồi nói:

- Má tui bảo đó là bụi chuối ma đừng ra ngoài kia chơi. Còn mấy cây chuối này là chuối già, hiền khô hà.

- Chuối này mà là chuối ma, bên xứ tui gọi là cây chuối hột, còn mấy cây chuối này sao gọi nó là chuối già. Thấy chúng tươi tốt thấy mồ.

- Thì ma cỏ đâu có dám ở chung với con người nên phải sống nơi bụi rậm, hoang vắng. Còn chuối già, sức khỏe yếu nên không thể xa nhà.

- Tào lao. Hông hiểu.

  Con Út chí lấy tay gải gải đầu. Thằng Tư Ghẻ thấy vậy né sang chỗ khác nói:

- Ghê quá. Coi chừng tụi chí bay sang đây.

- Má tui hồi sáng gội đầu bằng rượu mạnh. Tụi nó say mèm hết rồi. Má ra đồng coi cấy xong, một lát vô lấy lược dầy chải bắt ráo trọi. Tui gải đầu là do đang suy nghĩ chứ bộ.

- Có gì mà suy nghĩ. Má ông nói vậy cho ông sợ mà không dám đi chơi xa.

- Đâu có, anh Ba tui sắp là kỹ sư nông nghiệp cũng nói vậy. Cây chuối ma mà trồng gần nhà thường không cho trái. Nếu có thì trái của nó lịa xịa, buồng cùi, què quặc sượng sùng hỏng ai thèm ăn.

  Con Út Chí thấy thằng Tư Ghẻ chưa tin nên kể miết. Ông Chín Chệch ở xóm dưới rất giỏi bùa Lỗ Ban, hay lấy cây chuối ma luyện tinh linh gì đó. Khi luyện đạt kết quả, cây chuối hóa thành người có tay chân, mắt mũi, đẹp trai, đẹp gái theo ý muốn của mình. Kêu cái gì nó làm nấy. Ghê chưa. Tuy là ma quái nhưng trái của nó mà nướng sơ, ngâm với rượu trị bá bịnh, hay nhất là bệnh thận. Còn chuyện này mới dữ. Người ta đợi lúc cây chuối ma trổ buồng có chảy ra một chất nước tinh khiết. Lấy ly hứng mang về luyện đủ bốn mươi chín ngày sẽ trở thành bùa yêu. Mình khoái ai mà người ta không thích mình thì cho họ uống thứ nước ấy, hoặc chỉ ngửi thôi cũng được là họ yêu mình đến suốt đời. Nhưng phải thủy chung mãi mãi với người đó. Còn nếu lúc yêu, lúc không, sống bội bạc là người ta không để cho mình yên đâu. Đến chết họ cũng hiện hồn về quấy rối. Phải xác định cho kỹ. Bùa yêu xưa nay chưa có thuốc giải.

  Thằng Tư Ghẻ nghe thì nghe cho có nhưng nó vẫn chưa tin. Má nó bảo cái nghề cấy mướn của mình rày đây mai đó. Sống tạm bợ nơi bờ bụi, cỏ cây. Sống với cánh đồng mông mênh, với gò mả lạn, với chim chóc thú hoang nhiều hơn với con người. Nghề cấy còn thường xuyên tiếp xúc với bóng tối, với đêm khuya, những thứ mắt thường không nhìn thấy được, nhưng chuyện của ai nấy làm, không đụng chạm nhau. Bởi chúng ta đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có được đồng tiền chính đáng nên không sợ chi cả. Phải tự hào với công việc cấy những cây mạ non vào lòng đất để chúng lớn nhanh, đơm bông, kết quả, cho những vụ mùa bội thu. Có một đêm trời kéo mây vần vũ, đánh chớp liên hồi, thằng Tư đi ngang bụi cây thoáng thấy bóng trắng của một người con gái lúc ẩn, lúc hiện. Tưởng ma hiện hồn nên nó hoảng quá, chạy thục mạng về lều trại, rồi kể cho má nghe. Bà kêu dẫn đến chỗ có con ma nữ kia. Lúc này bình tĩnh lại, thằng Tư Ghẻ mới nhận ra đó chỉ là chiếc áo mưa bằng ny-lông màu trắng do ai đó vô tình vắt lên đọt cây. Đêm quá khuya, má Tư Ghẻ thấy vậy kêu nó xách đèn vô lều ngủ trước. Nó gật gù đi ngang qua cái đìa cạn sệt. Thằng Tư giật mình khi thấy có một con mắt sáng rực to như bóng đèn xe hơi đang nhìn chằm chằm vô nó. Kì lạ, ánh đèn rọi theo hướng nào là nó liếc theo hướng đó. Không lẽ có con quỷ một mắt trong mấy truyện tranh của con Út Chí xuất hiện ở vùng đất này. Thằng Tư hết buồn ngủ, tỉnh bơ luôn, co chân, vọt chạy ngược trở lại ruộng cấy, thở hổn hển, tay ôm ngực, kể cho má nó nghe từng tiếng một. Má nó cười. Ma quỷ chi con. Dưới đó có con trâu. Mày rọi ngay vô một con mắt của nó đang mở, nên bị chói ngược ánh sáng đấy mà. Tư Ghẻ quay trở lại thì nghe tiếng thở khì phò của con trâu đen thui đang trầm thủy, đầy sình bùn. 

  Đầu thằng Tư bên ngoài chi chít mụn ghẻ và ít tóc, nhưng bộ não bên trong thì rất nhanh trí. Con Út Chí vừa kể chuyện xong, nó đề nghị:

- Ông có muốn hai đứa mình được chơi chung hoài không. Chứ cứ mỗi khi mùa cấy xong là tui về quê. Buồn ghê.

- Sao không muốn?

- Vậy mình cùng đi lấy cái nước thuốc tình yêu gì đó nghen?

- Chi vậy. Ông đừng nói là cho tui uống nhe. Bùa tình yêu chỉ linh thiêng khi đối phương không biết gì về nó. Còn tui…

- Đâu có. Đừng có mơ. Tui muốn cho chị Hai tui và anh Ba của ông trước uống, sau ngửi. Nếu hai người đó cưới nhau thì mình cùng chung một nhà rồi.

- Ờ hén. Coi vậy mà ông cũng thông minh dữ.

  Thằng Tư nghênh mặt, hỉnh hỉnh cái lỗ mũi. Định lấy tay gảy mấy mụt ghẻ đang ngứa rang, do máu trong người nó dâng cao, nhưng cố kìm lại cho ra vẻ chuẩn chạc. Chỉ có con nít khờ khạo như con Út Chí mới hở hở là gảy đầu suy nghĩ. Trong đầu Tư Ghẻ đang mơ tưởng về một căn nhà chung cao rộng, xinh đẹp, khác với cái nhà chòi trước mặt và mấy mái lều tạm bợ ngoài kia dành cho những người xa xứ di cư về đây trong những mùa cấy lúa tràn đồng.    

*

  Trời còn tối thui mà chị của thằng Tư giật một, giật hai kêu nó thức dậy chuyển đồ xuống xuồng chèo về quê. Mấy con gà trong xóm còn ngủ ngon lành nên chẳng chịu cất tiếng gáy vang. Độ rày tụi nó lại rủ nhau gáy lúc giữa trưa, có khi trời chạng vạng, chập tối. Má của Tư Ghẻ chỉ kinh nghiệm đoán thời giờ khi đi cấy ở đồng xa hoang vắng thì dựa vào con nước ròng, nước lớn. Dựa vào tiếng kêu của tụi chim cò và bóng ngã chiều tà hay đứng bóng. Trong tiếng kêu của loài chim, con vịt, bầy gà không chỉ ám hiệu thời gian mà còn ẩn chứa một điềm báo, một dự cảm. Tụi gà trống mà lựa giờ linh thiêng, hè nhau cất tiếng gáy là coi chừng trong xóm có đàn bà con gái “lấy chồng, theo trai”. Khi nghe má nói đến chuyện này, Tư Ghẻ nổi gân cổ lên cãi: Gái nào lớn lên mà không theo trai để lấy chồng, ông bà mình từ lâu đã nói như vậy rồi. Má thằng Tư từ tốn giải thích: Theo cái nghĩa mèo mả gà đồng, người lớn chưa hỏi han nhau để rồi có chửa hoang, chồng mình mình ăn ở, đằng này lại đi lấy chồng của người khác, mang tiếng nhơ từ đời này đến kiếp khác đó con.

  Trong đầu Tư Ghẻ lại thắc mắc: tại sao chị của nó bỏ đoàn cấy về sớm như vậy. Nó muốn nán lại, chờ trời sáng, vô trong xóm gặp con Út Ghẻ để nói lời từ biệt, nắm tay mà dặn cái . Dẫu sao thì đây cũng là mùa cấy cuối cùng rồi. Đường đời xa xôi cách trở, biết sau này có gặp lại nhau. Nó giả bộ giống như kẻ say ngủ, chần chừ, do dự để kéo dài thời gian, lựa thời điểm thích hợp xin ở lại. Nhưng chị Hai không nói không rằng, tung mùng, xếp chiếu, giật mền, bất ngờ hỏi: Hồi hôm em đi đâu mà chân cẳng dính đầy sình bùn vậy? Sợ bị lộ tẩy, nó trả lời rất nhanh: Đâu có đi đâu đâu. Em mắc đái quá, mắt nhắm mắt mở chạy vội ra ngoài bờ đê nên bị trược chân, té xuống ruộng. Chị Hai hỏi cho có hỏi, rồi lầm lụi chuyển đồ đạc. Thấy vậy Tư Ghẻ bắt bẻ:

- Sao Hai về sớm quá vậy, không đợi tới sáng đi chung với mọi người. Tách đoàn kiểu này phải tự chèo, tự bơi. Đường về tới Thoại Sơn xa xôi lắm à.

- Kệ. Nhanh về má đợi. Nhớ nhà ghê.

- Còn tiền bạc thì sao Hai.

- Lấy xong hết rồi.

- Lấy hồi nào, sao em hỏng thấy. Hồi hôm hả. Ai trả cho chị.

- Hồi hôm thấy em ngủ say nên chị không có kêu. Chị ra đồng đi cấy với mọi người cho xong miếng ruộng ngoài lung. Mà thôi. À quên,….chị nhờ người ta lấy rồi. Được chưa.

  Nghề cấy mướn của bà con vùng Bảy Núi thường gắn liền với những chuyến đi rày đây mai đó. Mới bắt nhịp với mảnh đất nơi họ đến thì phải rời xa. Cây mạ non rời mảnh đất mà nó sinh ra cũng là cuộc chia ly đầy nước mắt. Nhưng nhờ bàn tay khéo léo của người thợ cấy, nó bén rễ với vùng đất mới, rồi sinh con đẻ cái, đơm bông kết hạt cho đời. Mỗi mùa cấy là mỗi cuộc chia tay, để rồi mong chờ mùa sau. Với tay nghề của mình, chị Hai cũng đã chứng kiến vô vàn những cuộc chia ly. Nhưng đây là mùa cấy cuối cùng ở vùng đất Mỹ Đông này, cũng đồng nghĩa với mùa chia ly cuối cùng. Chị không đủ bản lĩnh để đối diện với một hiện thực đau buồn. Hay đó là sự trốn chạy của một kẻ tự cho rằng mình đang làm những việc xấu xa, tội lỗi mà không muốn cho ai biết. Nằm ở bên trong khoang xuồng có rèm che kín, thằng Tư mở mắt trao tráo mà chỉ thấy một màu đen tối phủ trùm. Nó nghe tiếng mái dầm của người chị đằng sau lái khác lạ quá, đặc biệt là không giống như hôm khởi hành cùng đoàn cấy lúa. Nhịp chèo chậm, rất chậm, tiếng chèm…chạch…chèm … chạch…không thể khuấy động, làm thức tỉnh bầu trời đêm yên ắng đang thanh thản trong giấc say nồng. Hình như sau mỗi nhịp chèo chị Hai dừng lại ngoái đầu ra sau lưng nhìn về hướng Mỹ Đông, rồi lấy tay quệt nước mắt. Chị không dám khua động mái dầm sợ bà con chòm xóm, sợ cỏ cây, cảnh vật đã mấy mùa yêu thương gắn bó thức dậy, rồi quyến luyến, vấn vương, không nỡ rời xa. Nhưng đâu thể nào ở lại mãi với vùng đất này, khi nghề cấy lúa thủ công của mình rồi đây sẽ được thay thế bằng máy móc, công nghệ hiện đại.

  Tư Ghẻ đoán chắc chị Hai đang buồn nhưng không biết làm sao. Bỗng nó bật dậy, tay vỗ đầu, tay ôm ngực. Nó tiếc nuối phải chi mình lấy được cái loại nước yêu thương hay bùa tình yêu theo lời con Út Chí nói thì bây giờ đâu có rơi vào tình cảnh như vầy. Hôm ấy, Tư Ghẻ quan sát thấy một cây chuối hột mẹ đang có chữa, bụng to, cổ tròn, sắp trổ buồng, nên bí mật hẹn với Út Chí là đêm xuống cùng nhau hứng lấy nước tình yêu. Phải thật bí mật vì nếu ông Chín Chệch mà phát hiện thì ổng sẽ rình lấy trước. Chín Chệch người gốc Hoa xài bùa Lỗ Ban, ngoài luyện tinh linh, bùa yêu, còn tuyên bố là luyện thêm cả bùa nghe. Tức là trong xóm ai mà nói chuyện gì, đặc biệt là nói xấu ổng ở sau lưng là ổng biết sạch trơn. Cho nên, Chín Chệch được bà con gọi thêm một cái tên khác với biệt danh Chín Rùa. Vì ông ấy là kẻ chúa rình chuyên nghe lén chuyện thiên hạ, nội tình trong gia đình người ta nên mới biết nhiều thứ.

Đêm đó, phía sau hè nhà bà chủ đất có hai bóng đen nhỏ xíu, dìu dắt nhau lòn lách qua mấy hàng cây, ém mình dưới bụi sậy sầm uất, mọc um tùm cạnh bụi chuối hột to đùng ngoài vườn hoang vắng. Đợi đến khuya, sương xuống nhiều, cây chuối mẹ sẽ trổ buồng, rồi nhanh chân chạy đến hứng lấy nước về luyện bùa tình yêu. Thằng Tư cầm cái ly lâu quá nên mõi muốn rụng cả cánh tay nên chuyền sang cho Út Chí. Khổ hơn nữa là cạnh của mấy lá sậy, cây đế lứa sứa nhưng rất sắc, giống như mấy cái răng cưa bén ngót, cứ xúm vô mấy mụt ghẻ, mấy cái thẹo mới lành da non chưa kịp ra tóc mà khứa. Ngứa quá chịu không nổi, Thằng Tư phải lấy hai tay mà gảy sồn sột, chảy cả máu nghe mới đã sướng. Con Út nằm cạnh bên đưa ngón tay trỏ lên trên miệng, í kêu gảy vừa vừa thôi, làm quá coi chừng gây ra tiếng động. Nhưng rồi đến lượt nó chuyền cái ly sang cho Tư Ghẻ. Mồ hôi trên đầu của Út Chí kết hợp với hơi ẩm của sương đêm khiến cho tụi chí thức giấc, đói bụng chạy rần rần. Nó vừa chà, vừa xoa, lấy ngón tay móc móc vô mấy con chí đang nhổng đít hút máu trên đầu của nó. Chưa kịp định thần vì ba cái tụi chí, tụi ghẻ, thì hai đứa nhỏ lại hết hồn khi thấy có một bóng đen xiêu vẹo từ hướng ngoài ruộng lần mọ vào. Té xuống ruộng bên phải, lồm cồm leo lên bờ đê, đi mới được vài bước đã ngã sang ruộng bên trái. Trời đất. Lão Tư Xỉn nhậu ở đâu mà tới giờ mới chịu về nhà.

Lão lần mò tới bụi chuối hột rồi dừng lại, nhè vào cây chuối mẹ đang có chửa mà móc họng, ụa ẹ ói sạch, ói ra cả mật xanh. Hai đứa nhỏ nhăn nhó vò đầu bứt tóc, bụm mũi vì không chịu nỗi cái mùi hôi thối bốc lên. Chắc lão không biết đây là bụi chuối đầy linh thiêng. Mấy thằng say xỉn đến thiên bôi thiểu, ông trời biểu thôi cũng không thôi, chứ nói gì đến ma quỷ ở trần gian này. Đâu chịu ngừng lại ở đó, Tư Xỉn còn tuột quần ra tè xối xả vô cây chuối. Gục gà gục gặc đứng đái mải miết như hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ bị bí đường tiểu, đêm nay mới thông nước được. Bỗng cây chuối rung mình, lá cây va vào nhau kêu soàn soạt, cất tiếng cười sặc sụa theo vũ điệu yêu thương đón chào niềm vui mới. Có một sinh thể với sức mạnh vô biên đang chuyển động bên trong xé toạc thân thể, thịt da cây chuối, phát ra thành tiếng kêu đau đớn, rên rỉ. Một luồn sáng vọt ra từ cuốn họng của cây chuối đang có chửa, bắn vọt lên cao, xối một trận nước lên đầu Tư Xỉn. Lão giật mình ngước mặt lên thấy thân hình một em bé miệng cười toe toét, nhưng không chân, tay, có đôi cánh thiên thần mọc ở hai bên đang bay và rớt nhè nhẹ xuống mặt đất. Sự việc ấy diễn ra trong chớp nhoáng khiến cho kẻ say rượu bừng tỉnh la làng: A, có ma hiện hồn. Trời ơi có ma. Có ma….   Lão bỏ chạy mà không kịp kéo quần. Té xuống cứ gắng gượng đứng dậy mà bò lết về nhà. La sợ đến tắt tiếng tàn hơi và kiệt sức. Trong xóm nhỏ cặp bờ Kinh Ông Hai vẫn yên ắng bình thường, bà con ngủ mê như chết sau một ngày làm đồng mệt nhọc. Chứng kiến cảnh đó, nhất là sau tiếng la: Có ma, hai đứa trẻ hoảng hồn mạnh ai nấy chạy thụt mạng. Sáng hôm sau, trong xóm có tin đồn râm ran là Tư Xỉn hồi hôm gặp ma ở bụi chuối hột sau hè nhà bà chủ đất. Hai đứa trẻ nhìn nhau, không biết nói gì, tiếp tục chơi nhà chòi. Chỉ tiếc là cái ly thủy tinh rất quý, được bà chủ đất chưng cất ở rất kỹ trong tủ kiếng, con Út Chí lén lút mang đi để hứng thứ nước tình yêu hồi đêm hôm, không biết bây giờ nằm ở bụi cây, lùm cỏ, hay ở ruộng cấy, bờ hoang nào.

Nằm nhắm mắt để đó trong khoang rèm mãi không chịu được, Tư Ghẻ lồm cồm bò ra ngồi thơ thẩn trước mũi xuồng. Xa xa có tiếng chuông chùa vọng lại hòa với tiếng mái dầm khua nước của chị Hai. Vậy là đã đến xóm Chùa cặp Kinh Nguyễn Văn Tiếp. Con sông rộng thênh thang như muốn nuốt chửng chiếc xuồng bé nhỏ của hai chị em đã từng gắn đời mình với nghiệp cấy mướn. Nó bắn thẳng như ruột ngựa ra Vàm Phong Mỹ, vượt con sông Tiền sang Mỹ Hiệp là sắp tới vùng đất Bảy Núi. Tư Ghẻ chợt nghĩ không biết bây giờ con Út Chí đã thức dậy chưa. Nếu thức dậy, biết mình về quê mà không một lời chia tay, từ giã cuối cùng thì nó có buồn nhớ như chị Hai ở sau tay lái không ta? Thằng Tư quay lại nhìn chị Hai. Dáng người chị mờ mờ đang còng lưng chèo xuồng. Bất giác nó giật mình khi nhìn thấy ánh sáng của chiếc đèn pin đeo trên đầu của chị Hai. Ngọn đèn như vì sao cô đơn trong đêm tối. Nó ngã nghiêng, xô dạt, dập dìu theo dòng nước, chợt mờ chợt khuất theo những rặng cây, bờ hoang cỏ vắng. Tư Ghẻ lấy hai tay làm cảnh giả: lúc che, lúc mở để nhìn ngọn đèn. Nó ngã người xuống sạp xuồng và tưởng tượng như có ai đang cố đè mình xuống đất. Rồi nó khom lưng chu cái mỏ, lấy hai tay làm cái mặt của con Út Chí từ từ áp sát vào mặt mình. Nó lại nhớ chị Hai là thợ cấy có tay nghề nhưng là chúa sợ ma, đi đêm mà không có đèn là không chịu đi. Đến nỗi, chui vô mùng, tấn chặt bốn bên, rồi mới tắt đèn và để kè kè bên mình. Trời ơi, không lẽ ngọn đèn ma trong bụi chuối tối rồi là của....Nó giận dữ thét lên như bị ai lừa gạt nó, hay phát hiện ra một bí mật vô cùng hệ trọng chỉ bằng hai tiếng: “Chị Hai” rồi nghẹn lại. Đằng sau lái, chị nó giật mình hỏi:

- Cái gì nữa đây thằng quỷ. Em làm gì tự nãy giờ chiếc xuồng cứ tròng trành hoài vậy.

- Em định lấy dầm bơi tiếp với chị.

- Thôi đi ông. Trời còn tối. Chui vô rèm ngủ tiếp đi. Xớ rớ coi chừng rớt xuống sông sâu là mất mạng. Nhớ lời má dặn hông: Đi xứ lạ quê người, hai chị em phải đùm bọc yêu thương nhau. Làm gì thì làm, bằng mọi giá là phải giữ cái mạng mà về với Thoại Sơn vùng Bảy Núi.

- Dạ….

  Sau tiếng “dạ” kéo thật dài là nước mắt của thằng Tư Ghẻ cứ trào ra lả chả, rơi xuống hòa vào sông nước miền Tây. Nó lấy hai tay mà quệt lia lịa cũng không kịp. Tự dưng nó nhớ má, thương chị Hai vô ngần. Lúc đầu định hỏi cho ra lẽ, nhưng bây giờ mà nhắc đến chuyện gì liên quan đến miền đất cấy sẽ làm cho lòng của chị thêm đau khổ. Trên bờ sông có nhà ai đó đang thức sớm, vặn âm thanh chiếc ra-đi-ô, đài FM đang phát bài Tình anh bán chiếu nghe muốn bể cả xóm làng. Chiếc xuồng của hai chị em đi cấy lúa mướn vẫn âm thầm xuyên vào bóng đêm mông mênh sóng nước. Xuyên vào nỗi buồn não ruột, mùi mẫn thâm kim của giọng ca Út Trà Ôn dội xuống mặt sông vang vang: Tôi ngồi yên sau lái. Mắt vẫn hướng về nẻo cũ vườn xưa. Hỡi ơi con sông Phụng Hiệp nó chảy ra bảy ngả. Mà sao lệ của tôi cũng lai láng tuôn dòng….

*

  Bữa cơm chiều đoàn tụ gia đình sau một mùa cấy xa quê, thằng Tư Ghẻ huyên thuyên kể chuyện về chuyến đi cho má nó nghe. Nó chuyển giọng buồn buồn khi nhắc đến mùa sau không còn sang Tháp Mười cấy lúa nữa, vì nơi đó người ta sẽ áp dụng khoa học hiện đại cho nông nghiệp. Rồi nó thắc mắc:

- Bộ cấy lúa cũng có dùng nọc cấy nữa hả má?

- Đúng rồi đó con. Ngày xưa phải dùng nọc đâm thành lỗ rồi nhét cây lúa xuống, ém đất lại.

- Nhưng từ khi con biết đến giờ, con thấy người ta cấy lúa bằng tay thôi mà.

  Thằng Tư nhắc đến chuyện cấy lúa phải dùng nọc cấy gợi cho má nó nhớ lại một quá khứ đau lòng. Lúc nó còn bập bẹ, ngây thơ cứ mãi cất lời: Ba của con đâu sao không thấy về nhà?  Giấu nhẹm nỗi buồn xuống tận tâm cang, quay về phía không người, má nó giả giọng vui vẻ trả lời: Ba của con đi làm ăn xa, chừng nào ba về ba sẽ mua quà cho con nghen, con thích quà gì nhất nào. Tần số xuất hiện của câu hỏi kia tỉ lệ nghịch với tuổi đời của Tư Ghẻ. Ngày xưa, nghề truyền thống của bà con vùng đất này là phá núi, đập đá. Mỗi lần chủ thầu chở đá đến nơi nào xây dựng là sẽ có một đoàn người đi theo để đập những hòn đá to thành đá nhỏ theo ý muốn của người sử dụng. Đàn bà, con gái Thoại Sơn bửa đá không thua gì con trai. Tảng đá cỡ một ôm tay, cầm cây búa tạ vừa với sức mỗi người, rê cái đe vào những khe rạn nứt của hòn đá, kinh bốn năm cái là tan ra hàng trăm mảnh.

Rồi bỗng đâu có nghề sản xuất và làm lúa giống tràn về Bảy Núi. Họ rất cần những bàn tay của người phụ nữ để cấy những mầm mạ non xuống lòng đất một cách thật kỹ lưỡng, ngay hàng thẳng lối. Khi chưa có máy móc, cày bừa chỉ dùng sức người, sức trâu bò nên đất không được tơi mềm. Cấy lúa phải dùng nọc cấy. Có anh chàng kỹ sư nông nghiệp ở đâu chẳng rõ đến đây làm cho công ty lúa giống đã phải lòng cô gái Thoại Sơn xinh đẹp, cấy giỏi, có sức khỏe, thật mạnh mẽ. Anh xoăn quần, xoắn áo, xông xáo nhảy vô ruộng cầm nọc, đâm lỗ cho người đẹp. Nàng chỉ cần nhét mạ xuống là xong. Lúc đầu cây nọc của chàng kỹ sư kia chỉ thọt vào lòng đất Thoại Sơn, dần dần nó lại đâm sâu vào miếng đất tình yêu, vào trái tim của cô gái trong những đêm sương núi giăng giăng, lành lạnh. Họ sống với nhau như vợ chồng. Đến khi đứa con gái đầu lòng chưa nhớ rõ mặt cha, trong bụng của cô gái kia lại có mang, thì chàng kỹ sư bỏ đi lặng lẽ trong đêm, để lại lá thư xin lỗi là do nhu cầu công việc phải chuyển sang xứ khác và hứa hẹn một ngày không xa sẽ về sum họp gia đình.

     Bao nhiêu nỗi sầu nhớ, vấn vương, tình cảm tươi đẹp của cô gái cấy lúa vùng đất Thoại Sơn đối với chàng kỹ sư nông nhiệp gần như đã dồn tất cả vào đôi mắt của đứa con gái ngây thơ. Bao nhiêu nỗi uất ức, tủi nhục, hận thù của người mẹ lại dồn vào bào thai đang mang trong bụng. Nên khi đứa trẻ ra đời, hỏa sân si dồn lên trên đầu, hóa thành những mụn nhọt, ghẻ chóc, èo ọt khó nuôi. Bà con chòm xóm kêu gởi tạm vô chùa và đặt đại một cái tên thật xấu xí: Tư Ghẻ. Những khi rày đây mai đó theo đoàn cấy lúa, má thằng Tư cũng được nhiều người để ý, ngỏ lời, nhưng tâm tư tình cảm bà đã dành hết cho hai đứa con thiếu vắng tình thương của người cha. Có rất nhiều bạn cấy đã bỏ nghề, rời quê theo chồng sang miệt khác làm ăn, nhưng má thằng Tư mỗi mùa cấy là phải về lại Thoại Sơn. Nếu bỏ xứ đi nơi khác, ba của thằng Tư quay lại thì biết tìm ở đâu. Giận và hận nhưng bà vẫn thương và chờ đợi, dù hiện tại, ba của nó vẫn biền biệt, bặt tăm hơi.

  Ngước lên thấy má thẫn thờ, đôi mắt rưng rưng đỏ tròng, Tư Ghẻ hỏi:

- Má sao buồn muốn khóc vậy má. Con làm má không vui à?

- Đâu có gì đâu con. Ăn cơm tiếp đi. Thằng Tư cho má biết là ai hỏi con chuyện nọc cấy mà con về hỏi mẹ vậy?

- Không ai hỏi con cả. Con nghe lén người ta nói.

- Ai nói? Nói khi nào vậy Tư. Kể cho má nghe đi. Không là má giận con đó.

  Thằng Tư Ghẻ liếc sang chị Hai của nó thấy không nói không rằng, tóc xòa ra, gục mặt xuống mâm, đưa chén vô sát miệng, lùa cơm lia lịa. Lùa gần cả chục đũa mà hình như có mấy hột vô họng. Trong tình thế bắt buộc nó trả lời: Con nghe cậu Ba con bà chủ đất bên Tháp Mười nói vậy. Tư Ghẻ mới nói tới đó, chị Hai quăng đũa, giằng chén xuống mâm kêu cái “rầm” rồi chạy vô buồng đóng sầm cửa lại. Má ngạc nhiên đến thảng thốt. Giác quan của người phụ nữ từng trải mách bảo cho người mẹ là sắp có chuyện chẳng lành xảy ra với mái gia đình ngồi mâm cơm sao bên nào cũng thấy lệch này.

  Đêm ấy, dù rất sợ nhưng Tư Ghẻ vẫn bặm gan, rón rén, từ từ tiến đến bụi chuối. Nhưng vẫn giữ một khoảng cách xa rồi ngóng lỗ tai lắng nghe. Ánh sáng ma mị của ngọn đèn đã tắt lịm, khiến nỗi sợ của thằng bé càng nhân cao. Trong bụi tối thui ấy có giọng nói ngọt ngào, êm ái như ru của một người con trai, giống hệt cậu Ba con bà chủ đất: Để anh lấy nọc cấy vào miếng đất còn lúng phúng mạ non, um tùm cỏ hoang, ngây dại của em nghe. Cái gì cũng phải từ từ, anh làm được, làm được… Đất mới phải cấy rỉ rả thôi nha. Cấy vội vàng, dập liên tục làm đau miếng đất quý của anh lắm. Thương này, cưng này. Sau mỗi tiếng thương, tiếng cưng là tiếng chành chạch…chành chạch… được phát ra do sự va đập của cây nọc cấy với mảnh đất có nước xem xép; xoáy một vòng, lắc qua lắc lại rồi từ từ rút lên. Cấy tiếp. Và hòa vào đó là tiếng rên, ứ hự ra chiều sung sướng. Tiếng sột soạt của thân thể con người quện vào lá chuối khô. Tiếng của những bàn tay cấu xiết vào da thịt cây chuối, vào thịt da của chính con người. Thằng Tư lấy hai tay gảy gảy ghẻ, niểng niểng cái đầu suy nghĩ. Ủa lạ quá. Cậu Ba mà cũng đi cấy đêm. Nọc cấy là cái quái gì mà từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến giờ không nghe ai nhắc đến. Sao đi cấy không ra ngoài đồng mà chui vô bụi chuối. Hình như trong đó còn có tiếng của một người con gái. Nó liều mình tiến sát lại thì nghe êm ru bà rù. Tối thui. Gió nhè nhẹ từng cơn lạnh buốt. Ngoài kia mấy ngọn đèn cấy vẫn sáng lung linh. Chắc chị Hai mình vẫn đang khom lưng, rứt từng mớ mạ non, nhét vội vàng, hối hả xuống mặt đất. Chợt nỗi sợ vô hình của thằng Tư ùa trở lại. Thôi về trại ngủ tiếp, để chị Hai vô mà thấy mình đi lung tung. Chị sẽ buồn.               

  Má của thằng Tư càng điếng người khi nghe nó kể thêm là cậu Ba cuối năm nay tốt nghiệp ra trường làm kỹ sư nông nghiệp. Kỹ sư gì chứ loại kỹ sư như ba của Tư Ghẻ thì nguy to. Chuyên đem giống đi gieo rắc hết mảnh đất này đến miếng đất khác cho ra mầm, lên mạ, không chịu chăm sóc mà bỏ con, bỏ vợ chạy lấy người. Chị Hai đóng cửa buồng nhưng lòn ra cửa sau, như kẻ mất hồn nhắm hướng mấy ngọn núi sau nhà mà chạy miết. Thằng Tư được lệnh theo sát chị Hai nên cũng tìm lối chạy theo. Trời mới chạng vạng mà tụi gà trong xóm núi lại gáy vang. Tư Ghẻ phải vượt qua mấy khuông ruộng lổm ngỗn đất đá, sạ cấy rất đều nhưng xuống mùa vụ không đồng loạt như ở Tháp Mười. Tụi mạ non với mấy chị lúa thân tròn ngậm sữa đang nép mình dưới chân núi định ngủ, bỗng giật mình xôn xao bởi những bước chạy mạnh mẽ của con người. Má thằng Tư cũng lần mọ theo sau. Mới tới mảnh ruộng vừa gặt còn trơ gốc rạ già, bà đuối sức phải dừng lại, ngước nhìn lên ngọn núi phía trước, thấy con gái mình đứng sừng sững, thẩn thờ ngóng về một phương trời vô định. Trông như dáng núi của vùng đất Thoại Sơn đang dần bị màn đêm trùm phủ. Gần hai chục năm qua, mỗi khi bóng chiều tràn về, phía sau hè nhà Tư Ghẻ cũng có một ngọn núi cỗi cằn đã âm thầm mọc lên trong nỗi nhớ thương, đợi chờ.

  Ngày chị Hai sắp sinh con, thấy chị mình đau đớn, oằn oại, thằng Tư  nhắc lại chuyện cây chuối ma mà nó đã chứng kiến. Má Tư Ghẻ nhẹ nhàng giải thích rằng chẳng có gì là thần bí cả. Cây chuối vốn rất cần nước, nhất là lúc nó có chửa, mang bầu, sinh trái. Điều này lí giải tại sao chuối thường trổ buồng vào ban đêm, vừa mát mẻ, dịu êm và sương rơi ướt đẫm. Trong các loại chuối, chuối hột có một sức sống mãnh liệt, kiên cường nhất. Dù cho nó sống cô độc giữa ruộng vườn hoang dã, cỗi cằn vẫn sinh sôi, nẩy nở thành những bụi rất to. Nước ói, nước đái của người đàn ông say rượu bị người đời chê là hôi thúi. Nhưng ngẫm kỹ chúng cũng là một loại nước. Còn đỡ hơn, lúc ta thèm khát mà không có bất cứ một giọt nào để sinh tồn. Thứ nước mà cây chuối tạo ra lúc trổ buồng là thứ nước quý giá vì được tạo ra trong thời khắc thiêng liêng. Trong các loại tình cảm trên nhân gian, tình mẫu tử là cao đẹp nhất, trong sáng, không vụ lợi, toan tính, so đo,... Má nói cho thằng Tư nghe nhưng cũng là đang nói với con Hai, đang nằm trong tình cảnh đó.

  Vậy mà, khi đứa con chưa tròn một tuổi, Chị Hai trốn nhà bỏ xứ đi xa, để lại lá thư trăn trối: chừng nào giàu có mới trở về. Nghe người ta đồn là chị theo mấy đứa bạn sang bên kia biên giới để buôn bán kinh doanh. Nếu mà trúng mánh sẽ mau có tiền hơn cái nghề cấy lúa mướn gấp trăm ngàn lần. Má thằng Tư biết chuyến đi này không theo mùa cấy như ngày xưa, không hẹn ngày trở về. Đúng là con Hai mang dòng máu của thằng cha kỹ sư bội bạc của nó. Nhưng ngẫm lại cả cuộc đời đợi chờ của mình, má không thể trách đứa con gái dại khờ. Nó phải ra đi, phải đổi đời, lập nghiệp. Chỉ xót thương cho đứa cháu còn nhỏ dại, ngây thơ. Mỗi khi ru thằng nhỏ ngủ, má thằng Tư bắt đầu bằng câu quen thuộc: Hò ơi…Nam Vang đi dễ khó về/ Trai đi mất vợ, gái về mất con. Khi đứa bé khóc dữ quá, thằng Tư Ghẻ lấy cái áo của má nó nhét ở đầu nằm là nó êm ru.

*

  Út Chí lớn lên được bà chủ đất đưa ra thị thành cho học hành đàng hoàng. Nó tốt nghiệp xong đại học nhưng không làm việc trên Sài Gòn mà trở về Tháp Mười quyết tâm kinh doanh theo ý riêng của mình. Nó mở một khu dừng chân lấy tên: Hương Đồng Quê có mặt tiền giáp với tuyến đường N2, phía dưới cặp dòng sông Nguyễn Văn Tiếp. Miếng đất vừa rộng, vừa hợp phong thủy nên có nhiều công ty sản xuất bánh kẹo, trà sữa, thức uống, các đặc sản quê hương đến xin kí hợp đồng mướn mặt bằng trưng bày và giao dịch sản phẩm. Khu dừng chân Hương Đồng Quê mới thành lập chưa được bao lâu mà đã ăn nên làm ra. Ngoài dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, câu cá sông giải trí, khách thập phương ghé lại điều đầu tiên là được quán đãi uống một ly nước trà giải khát do chính tay bà chủ pha chế. Đặc biệt, nếu ai có thể đoán được trong nước trà ấy được làm nên từ hương vị nào sẽ được thưởng một món quà có giá trị rất lớn. Món quà quý được gói kín, bảo quản cẩn thận ở trong tủ trưng bày ngay từ hôm khai trương. Đã bao mùa nước lũ tràn về bến sông quê, đã bao mùa xe cộ hối hả chạy qua con đường này để hồi hương đón tết, nhưng chưa có người nào nhận ra mùi trà được tinh luyện từ loại hoa, loài cây nào. Mỗi lúc vắng khách, Út Chí hay ra ngoài cửa quán thẫn thờ đứng ngắm dòng người ngược xuôi. Mỗi khi chiều buông, nó lại xuống bến sông lặng nhìn dòng trôi của con nước đang chùng chình chảy về miệt Bảy Núi.

  Một hôm có vị khách dẫn theo đứa bé dừng chân nghỉ, uống xong tách trà, anh ta yêu cầu cho gặp bà chủ quán vì biết loại trà này được làm từ hương vị nào rồi. Nhân viên vào phòng báo cho Út Chí. Nó cẩn thận đưa tờ giấy kêu anh ta viết vào đó, còn mình kín đáo kéo rèm quan sát từ xa: trông dáng vẻ cao ráo, ăn mặc lịch sự, nhìn thấy có nét rất lạ nhưng cũng quen quen. Đến khi đọc lướt qua nội dung ghi trên mảnh giấy, nó vội vàng bước ra ngoài, tiến gần đến bàn người thanh niên, trông thấy anh quay lại lấy tay gảy gảy đầu, nhăn nhăn mặt liền thốt lên.

- Anh Tư Ghẻ. Phải Tư Ghẻ hông.

- Tư Ghẻ nè chứ ai.

- Ông đi đâu mà biệt tăm tích sau mùa cấy năm ấy.

- Thì mùa cấy cuối cùng rồi, ai mà qua đây chi nữa.

- Thôi bỏ qua cái chuyện cấy cày đi. Bây giờ tui tặng ông món quà như đã hứa nè.

  Út Chí mở khóa tủ trưng bày, cẩn thận lấy thùng quà đặt giữa bàn. Hôm ấy khu dừng chân Hương Đồng Quê rất đông khách. Họ xúm lại, tò mò xem đó là vật gì mà quý trọng đến vậy. Nó tỉ mỉ từ từ mở bật gói quà ra. Mọi người trố mắt ngạc nhiên, đồng thanh “Ồ” lên một tiếng dài thất vọng, rồi tản đi chỗ khác. Chỉ có Tư Ghẻ tỏ ra sung sướng cất lời:

- Trời ơi, cái ly thủy tinh.

- Cái ly đêm chờ hứng nước làm bùa tình yêu đó.

- Nó bị lạc rớt mất tiêu rồi mà.

- Nhờ cái ly mà em mới tìm ra được hương vị của loại trà này. Nó quyến rũ, vấn vương một cách lạ thường.

  Sau đêm tìm nước luyện bùa yêu bất thành, sợ bị má mắng nhiếc la rầy, nên con Út Chí âm thầm, lén lút đi tìm cho bằng được cái ly thủy tinh quý giá đã bị thất lạc. Nó giẫm nát bụi cỏ hoang mọc bên cạnh cây chuối hột đã trổ buồng, trầm mình vạch lá sen dưới đái ao cạnh hè. Nó xoắn quần lội sình bùn xuống đám mạ non. Nó kiếm tìm đến lúc cây lúa ngậm sữa, trổ đồng đồng, qua mùa gặt chỉ còn trơ ra những gốc rạ, cọng rơm. Từ mùa sen cạn, sen tàn, đến khi bông nở những đóa hoa hồng, tỏa ngát hương thơm, bướm ong dập dìu. Nó kiếm tìm từ mùa đốt đồng khói tỏa bay lên trời tạo thành những ngọn núi trắng như những dãy núi vùng Thoại Sơn, đến mùa nước tràn về, người ta thả lũ để đất quê say sưa uống lấy những giọt phù sa. Mỗi khi thất bại, Út Chí có thói quen trút cơn giận dữ của mình bằng cách bứt phá cái gì có thể bứt, vò nát cái gì có thể vò nát ở xung quanh mình, rồi đưa lên mũi ngửi, tung xác lên bầu trời. Đến khi tìm ra được cái ly thủy tinh, cũng là lúc nó nhận ra mỗi sinh thể của vùng đất quê mình đều có một mùi hương riêng biệt. Cỏ dại cũng có mùi của dại, rơm rạ cũng có mùi của rạ rơm.

Thằng Tư Ghẻ hồi hương về Bảy Núi rồi ở luôn bên ấy. Út Chí chơi nhà chòi có một mình. Nó xắt nhỏ lá sen, mạ non, cỏ hoa, cây lá rồi nấu thành nước, rót vào cái ly thủy tinh. Út Chí vẽ hình anh Ba và chị Hai của Tư Ghẻ lên mặt đất rồi rót cho mỗi người một ngụm nước. Nhắm mắt lại, nó thấy hai người đang nắm tay nhau, rạng rỡ, gương mặt hân hoan trong tiệc cưới. Rồi thầm tiếc phải chi phát hiện sớm một chút thì loại nước này của mình có thể thay thế bùa tình yêu mà dân gian truyền tụng. Mỗi khi nhớ thằng Tư Ghẻ, con Út Chí len lén ra sau nhà vẽ hình đứa bạn lên mặt đất, rót giọt nước đồng quê trong ly thủy tinh cho nó uống. Út Chí chắp hai tay trước ngực, nhắm mắt lại thì thấy mình đang ngồi chơi trong nhà chòi lợp bằng lá chuối với Tư Ghẻ, trên đầu mỗi đứa có đội một vòng nguyệt quế, được kết bằng cỏ dại, hoa thơm, hái vội trong vườn. Xong rồi, lấy chân xóa ngay liền, sợ bị người ta phát hiện. Ngày lên Sài Gòn học đại học, hương hoa cỏ, hương tóc mạ non, mùi hăn hắt của đất quê, mùi con gái tỏa ra từ chị Hai cứ vương vấn theo Út Chí.

  Chị chủ quán kể một hơi dài, rồi dừng lại nhìn thật lâu vào Tư Ghẻ, cất giọng buồn buồn nói:

- Gặp lại anh Tư em mừng quá. Đầu bây giờ không còn ghẻ chóc, trông đẹp trai lạ. Nhưng sao anh vội lấy vợ sớm dữ.

- Còn trẻ mà vợ con gì.

- Vậy còn thằng bé đi chung với anh

- Nó là con của chị Hai

- Vậy à? Mừng quá. Sao anh biết em mở khu nghỉ chân này mà ghé.

- Tình cờ thôi. Anh mới từ Nhật về. Chờ phỏng vấn đi tiếp. Rảnh nên quyết về thăm lại Tháp Mười. Thăm bà con, cô bác và để…

- Sao không rủ chị Hai đi cho vui- Út cắt lời.

- Chị sanh con chưa được một tuổi rồi bỏ xứ đi biệt tích đến giờ. Thằng nhỏ lớn lên trong sự thiếu vắng tình thương của cha lẫn mẹ, sống nhờ vào sự đùm bọc của bà ngoại già.

- Tội nghiệp nó quá.  

Út Chí ngắm thật kỹ gương mặt thằng bé có sóng mũi cao thon như cọng lá chuối hột, mắt hai mí lồ lộ, tóc quắn dợn bỗng thốt lên:

- Trời đất, nhìn thằng nhỏ sao thấy giống…

- Giống thằng cha của nó chứ gì. Anh Ba của em. Thì đúng rồi đó.

- Vụ này là sao anh Tư. Em không biết gì hết?

- Chuyện còn dài lắm. Kể sau đi. Nhưng bây giờ anh ấy có ở nhà không?

- Anh Ba bây giờ đang đi du lịch bên Thái Lan, khuya nay mới về tới Sài Gòn. Trời cũng chiều rồi, vậy anh Tư nán lại, ngủ qua đêm, ngày mai gặp anh ấy luôn một thể, nghen anh.

   Tư Ghẻ đã từng nằm trong hoàn cảnh sống mà không có người cha trong gia đình nên thấu cảm cho đứa cháu. Nó còn khổ hơn mình, vì thiếu vắng cả hơi ấm của mẹ. Vì vậy, anh ấy quyết phải ở lại đêm nay với Tháp Mười. Ngày mà chị Hai bỏ con sang bên kia biên giới xứ chùa Tháp để làm ăn, má của anh đau đớn lắm. Vai má oằn, lưng má còng hơn những lúc gánh mạ, khom khom cấy lúa. Ngọn núi đợi chờ ở sau hè vùng đất Thoại Sơn đang chực chờ đổ ầm xuống bất cứ lúc nào, thì ba thằng Tư xách cái “nọc cấy” trở về, sau gần một đời mang giống đi gieo mạ hết vùng đất này đến vùng đất khác. Thằng Tư được đi học lại. Nó học xong lớp chín rồi học nghề chứ không khoái làm kỹ sư, thầy dạy đời ai cả. Bởi nó biết năng lực của mình chỉ tới đó. Rất may là nhu cầu xã hội đang cần thợ hơn thầy, thằng Tư sang Nhật theo viện hợp tác lao động: khi đi làm thuê, lúc về làm chủ.

  Lâu lắm rồi mới trở lại miền đất cấy, nên Tư Ghẻ không ngủ được. Đúng là đất lúa đang vươn mình đón những luồn gió mới, khi nó được đánh thức bởi những con đường xuyên đất Tháp, bởi những dòng người, xe cộ nhộn nhịp ngày đêm. Anh rón rén xuống bến sông, thẫn thờ nhìn dòng trôi dềnh dàng cuộn chảy. Từ phía sau lưng, con Út cất giọng thầm thì, như sợ lo người ta lẫn ma quỷ phát hiện như cái đêm chờ hứng nước luyện bùa tình yêu:

- Anh Tư nhìn gì mà mải miết vậy?

- Anh nhìn dòng sông trôi mãi mà thấy thương nó quá. Cứ chảy, chảy hoài mà chưa tìm được nơi nào để dừng.

- Em đặt cái bến dưới sông này là bến đợi chờ và quán Hương Đồng Quê là điểm dừng chân. Chẳng phải từ xa xưa, vùng đất này là nơi hội tụ của các vị tiền nhân đi khai khẩn đất hoang. Và không biết bao nhiêu người tứ xứ đổ về đây trong những mùa cấy lúa, gặt lúa. Đến rồi đi, hội ngộ rồi chia ly như một quy luật của cuộc sống. Mai mốt em sẽ kết nối và phát triển khu dừng chân này thành một nơi lý tưởng. Hấp dẫn khách thập phương. Đến mà không muốn ra đi, ở lại mãi mãi như anh Tư em mới chịu.

- Trời đất ơi, sao Út càng ngày càng nói chuyện có duyên. Ốc của tui nổi cuồn cuộn rồi nè.

- Anh quên à, em là dân kinh doanh có trải qua lớp học nghệ thuật giao tiếp trên mạng.

  Tư Ghẻ sướng rân trong người, nhưng giả bộ mắc cở ngó qua bên kia sông. Anh ngạc nhiên khi nhìn thấy những ngọn đèn rực sáng chi chít như những vì sao trên cánh đồng mẫu lớn đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất từ rất lâu rồi. Ánh sáng của những ngọn đèn kết thành từng dãy giống như đoàn cấy đêm. Anh quay lại hỏi:

- Thời buổi này mà cũng còn có người làm nghề cấy lúa mướn nữa à.

- Còn chứ anh. Dù sử dụng bằng tia la-de để san phẳng mặt ruộng, nhưng vẫn có chỗ lung sâu, cao thấp; chỗ đất mềm, đất cứng. Dù cấy lúa bằng phương tiện hiện đại nhưng đôi khi cũng bị bỏ mũi, quên dòng lạc lối, nên con người phải dặm cấy lại. Máy móc vô tình, vô tâm lắm. Cứ thế mà chúng làm, đâu phân biệt phải trái, thiệt hơn. Còn con người như chúng ta lại khác. Hơn thế nữa em nghĩ, dù máy móc có hiện đại tối tân đến cỡ nào, vẫn chịu sự điều khiển bởi chính bàn tay và khối óc của con người.     

- Vậy mà sau chuyến đi lần ấy, anh cứ tưởng đó là mùa cấy cuối cùng.

- Có cái gì là cuối cùng đâu anh. Chẳng qua là hết mùa này để chuyển qua mùa khác, kết thúc một giai đoạn cũ để tiến sang một giai đoạn mới huy hoàng và sáng lạn hơn.

  Ngẫm lại cuộc đời mình, thằng Tư mới thấy Út Chí nói đúng. Nếu không có mùa cấy cuối cùng ngày ấy thì bây giờ anh đâu có quyết tâm học tập, vươn lên để làm chủ bản thân mình. Bên cạnh những cánh đồng hiện đại, bạt ngàn biển lúa, vẫn còn đó những phận người đang ngày đêm miệt mài vất vả để gieo giống, cấy những cọng mạ non bám sâu vào lòng đất. Tự dưng Tư Ghẻ lại nhớ chị Hai vô ngần. Không biết bây giờ chị lưu lạc nơi nào trên bước đường ly hương lập nghiệp. Anh lại ngửi thấy mùi hương tóc mạ non, mùi đồng quê, mùi của con gái còn trinh trắng đương dậy thì như cây lúa sắp trỗ đòng đòng đang thoang thoảng đâu đây.

  Thì ra, con nhỏ Út đang gục đầu vào bờ vai của thằng Tư. Dòng sông dường như lặng trôi. Vì nó đã tìm ra được bến đợi chờ.

 

H.V

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN THANH XUÂN

 

LÃO NÔNG

 

Ông Ba bỗng nhiên bỏ nhà vô chùa làm cả ấp cây me xôn xao. Vườn dừa đang thời cho trái sung nhất. Cơ ngơi nhà ông bao nhiêu nông có mà nằm mơ! Không dưng lại vô chùa? Chả ai hiểu nổi. Chắc có điều chi uẩn khúc, dữ dội mới khiến lão nông rời bở ruộng vườn?

Nhớ lại khi tôi mới 22 tuổi, ông Ba tìm đến phòng trọ tập thể. Vì thế tôi mới biết ổng. Ngày ấy, tôi từ miền ngoài vô. Giáo viên đứng với trò luốt mất tiu à.

- Thầy nhỏ xíu xìu xiu zậy nè? Mấy bà kháo nhau.

Trường mới, thầy cô mới, từ xa tới. Cuối tuần, bà con trong vùng hay đến thăm chúng tôi, giáo viên xa nhà ở trọ trong khu tập thể lụp xụp. Một ông bận bà ba đen, tóc búi tó, vô phòng tôi:

-Chào thầy! Xin phép, gặp thầy một chút, được không ạ?

-Dạ vâng, con chào ông! Có gì quan trọng không ạ? Con mời ông ngồi tạm. Đợi chút, châm trà nói chuyện nha ông.

Theo sau ông già là cậu trai cao mảnh khảnh, đôi mắt to, khuôn mặt khôi ngô. Phòng chật, chẳng có ghế bàn gì ngoài cái giường cá nhân. Tôi ngủ đó, nằm soạn giáo án trên đó. Giường đa năng, hi hi. Giờ không còn nữa!

-Người ta nói thầy miền ngoaì vô. Xa nhà chắc buồn lắm thầy nhỉ? Tui cũng là dân ngự cư. Mới đầu vậy thôi, sau quen thân mến đất mến người. Thầy nhận thằng này làm đệ tử cho vui. Nó học nên người, nhà tui biết ơn thầy nhiều lắm!

-Dạ, con lạ nước lạ cai, tay nghề còn non nớt, chắc chưa giúp gì nhiều đâu ạ!

-Nghề dạy nghề thôi thầy. Chữ tâm mới quan trọng. Thầy nhận lời cho tui vui về nói với bà tui ở nhà…

Trọng Đức sáng dạ, rất quý trong thầy cô. Cậu học trò cưng nhất đầu tiên của tôi. Lâu lâu tôi lại vô nhà ông Ba chơi, ngủ một đêm. Nhà lợp và dựng vách lá dừa, sạch sẽ và mát mẻ. Một làng quê Miền Tây đặc trưng. Tiếng tàu dừa lao xao, tiếng đồng lúa rì rào. Ao cá,vịt, bồ câu quấn quýt chạy theo chân người. Nhà trồng rẫy dưa leo, mồng tơi, đậu bắp bán quanh năm. Chiều tối sương sương xị đế, ngủ tới sáng bảnh. Mấy bạn bảo:

-Chú mày hợp khí hậu Miền Tây, da dẻ hồng hào. Lấy cô gái miệt vườn cho bén rễ xanh cây luôn đi!

- Ý, ai mà chịu thứ cù lần này? Gãy đầu, mặt đỏ tía. Tật xấu khó sửa.

Ba năm trời, thầy trò như hình với bóng. Tâm huyết nghề nghiêp và kiến thức, tôi dồn hết cho trò cưng. Nhưng thiếu kinh nghiệm và kém tai nên chỉ giúp Đức đủ điểm vô cao đẳng sư phạm. Tốt nghiệp ra trường chưa có chỗ dạy. Tỉnh lập đội khoan nước ngầm, cần người. Thế là Đức tham gia luôn. Không theo nghiệp thầy cũng hơi buồn. Nhưng cơm áo cần hơn. Khoan giếng không danh tiếng nhưng nhu cầu lúc đó rất cao. Tiền công khoan, rồi tiền chủ nhà thưởng thêm. Chỉ hai năm thôi, Đức đã sắm xe máy, xây nhà tường cho ba má. Nhà mới làm chưa kịp tô thì Đức đột ngột qua đời vì tai nạn giao thông. Mới học lấy bằng lái xong lại bị tai nạn ngay… Rằm giêng năm ấy, cả đội hoàn thành cái giếng ở gần cầu Bà Lâm, Cái Bè. Chủ nhà đãi nhậu linh đình. Mấy anh em đề nghị đổi món nem Lai Vung cho bớt ngán. Đức là đội trưởng, thương chiều anh em đi mua trong đêm. Mượn cái xe 67 của chủ nhà, người bạn tưng tửng cầm lái, lạ đường, đèn như đom đóm thế là cắm đầu vào đít xe tải đậu không đèn bên đường. Nga, vợ mới cưới của Đức, khóc nhói ruột gan:

-Thế là hết chờ hết đợi, anh ơi!

Tiếng khóc của Nga ám ảnh tôi đến giờ. Sợ lắm tiếng khóc của đàn bà. Nga bây giờ nơi đâu? Trọng Đức thì vẫn mãi mãi dừng lại tuổi đôi mươi… Té ra, hạnh phúc của con người ta là được chờ mong cái gì ở phía trước, một khát vọng chưa tỏ hình hài. Cái chết đột ngột như mặt trời bỗng dưng lịm tắt. Thúy Nga đã nói cho tôi biết: hạnh phúc là chờ mong chứ không phải cái đã viên mãn. Hết chờ hết đợi lúc tuổi già, nắng quái chiều hôm…

 Đó là nguyên nhân, ông Ba bỏ ruộng vô chùa.

Ông Ba, tên là Thắng- Ba Thắng. Nhưng trong ấp cây me gọi ông là ông Ba đạo đức. Bởi ông theo đạo Hiếu Nghĩa, để đầu tóc, Nói chuyện lịch sự đâu đó, uy tín đạo đức nổi tiếng. trong vùng. Quê ông ở An Giang bảy núi, có chùa Phi Lai, xã Ba Chúc. Ông phiêu dạt về ấp cây me, làm rể, sống mần ruộng rẫy ở quê vợ. Bà Ba, con gái họ Phạm. Bên ông già vợ bao bọc, quý trọng con rể nên cho nhiều ruộng vườn. Ba Thắng gan dạ trải đời, giỏi võ, bắn súng ngắn hai tay, tham gia diệt ác trừ gian trong kháng chiến chống Mỹ. Sau mùa xuân 1975, ông không khai nhận công trạng mà về mần ruộng. Nhậu đà đà, ông thoải mái:

-Quan tướng rồi cũng về đất. Thắng giặc Mỹ là nhờ cả nước cùng đánh, chứ tui đóng góp được nhiêu đâu mà nhận công lao? Về ruộng vườn sướng mê cái bụng. Vùng này mưa thuận gió hòa, quanh năm cây trái xanh tươi. Ở Ba Chúc, Tịnh Biên của An Giang ấy à? Sau tết ta, nắng nóng vàng mắt. Tre trúc còn héo rủ. Chỉ có thốt nốt là vẫn xanh thẩm suốt nhờ bộ rễ cắm sâu vô đất. Có dịp rủ thầy lên đó chơi xem cây thốt nốt, loại cây xanh thẩm, trụ vững chắc như võ sĩ su- mô…

Ông yêu thương vợ con gia đình. Ông yêu thương mảnh đất bao năm trường thấm đẫm mồ hôi và cả máu xương liệt sĩ. Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương… Đất cũng thương ông, che chở người nông dân chỉ có hai bàn tay chăm chỉ sớm hôm. Hình như, ông rời Ba Chúc có nỗi niềm chi khó nói? Ông chưa kể. Tôi cũng không dám hỏi. Giã từ gốc quê như cây nhổ rễ. Không có biến cố lớn,  chắc chắn chã ai ly hương…

Mười đứa con như chùm quả đu đủ đè nặng lên vai vợ chồng ông. Cày sâu cuốc bẫm, làm nào xào ngày nấy. Các con được đi học. Thấp nhất là lớp 6, bảy đứa con gái. Ba đứa con trai. Con gái học tới lớp 9 nghỉ, lấy chồng mần ruộng. Thằng trai lớn thứ ba ít nói nhưng chín chắn. Nó học không giỏi, không nổi tiếng vậy mà đậu đại học nông lâm, lấy vợ quê Củ Chi, lập nghiệp ở quận Thủ Đức. Tới thứ tám là Trọng Đức. Và, út chót được nhà ông cưng như trứng ngỗng. Thực ra, Trọng Đức sáng láng, thông minh là niếm hy vọng của gia đình. Nhưng tai nạn thảm khốc đã làm tiêu tan hy vọng. Giờ chỉ còn mong chờ thằng út. Út tên là Võ Trọng Tín. Sinh ra khi nhà ông khá giả, ăn uống đầy đủ, sữa cao cấp nên thân thể cao lớn, vóc dáng đẹp nhất nhà. Nhưng tài chưa biết mà đã có cái tật ham chơi, bài bạc, đá gà, trưng diện. Lười học, sách không thèm ngó. Sau cái chết của Trọng Đức, bà Ba suy sụp, mang đủ thứ bệnh trong mình, tối ngày thăm viếng nhà thương bệnh viên…

-Bả làm vợ tui khi mới 17 tuổi. Có nhiêu tài sản phải bán lo cho bà. Còn nước còn tát. Khi bác sĩ chê đành chịu! Ông kể với tôi thế. Hơn năm năm, thức lo lên xuống xanh mặt. Vậy mà đành chịu số trời…

 Bà căn dặn ông:

-Ông lo cho thằng út tròn vẹn nha! Thằng Tám mất, thằng Ba Còi ở xa, giờ chỉ chờ đợi vô nó. Sao tui áy náy…Nước mắt bà cứ trào ra. Người ta bảo là nước mắt Sống. Có phải trào ra cho nhẹ nợ nhân gian để thanh thản về cõi âm chăng?

Ông vuốt mắt cho vợ. Ai cũng phải chết. Chết trước được mồ mả. Bà đi có ông lo chu tất. Từ đó chịu cảnh gà trống nuôi con. Tháng ngày trĩu nặng, lê thê…

Hồi làng xã nghèo, đường sình đất trơn trượt. Mùa mưa, sáng ông cõng Tín ra trường ngoài lộ tỉnh. Trời khô ráo thì xách xe đạp ra rước con về. Nếu mưa sình thì ông lại lội bộ ra cõng con về. Cưng như trứng ngỗng. Bao nhiêu tình thương, ông dồn hết cho con. Hy vọng ngồi gốc  cây hồng hái bông... Dáng cò hạc xương xẩu hơn trước.

-Không chịu ăn uống sao có sức lo cho con, ông Ba? Tôi xào thịt bò ép mãi mà ông gắp cho có vậy thôi. Người ta cốt ăn. Không ăn uống thì tàn tạ rất nhanh.

 Má cóp, cẳng chân như ống nứa. Bàn tay chai đen vì làm lụng một đời. Cái khung nhà do Đức mần dang dở, ông tô dán gạch men, làm nhà bếp, nhà vệ sinh in thành phố luôn. Trong nhà ngoài ngõ hang trang, tươm tất đâu đó. Bao chờ mong vô Trọng Tín. Ông cứ bỏ trứng vô một giỏ. Cha cần cù, con phá của. Nuôi nhiều hy vọng sẽ nhiều thất vọng. Đời cua gáy, đời cáy cáy đào. Bao đồng, rỗi hơi lo cả đời sau? Cha mong mà con không muốn thì giũ mành mành như chơi.

 Học tới lớp 9, thằng út thành ngựa chứng. Ngày nào cũng theo nó tới thường. Nó đòi xe máy thì mua xe máy. Đòi đồng hồ thì mua đồng hồ. Thích điện thoại mua liền! Như bắt cóc bỏ dĩa, ông về nhà thì nó bỏ lớp học chơi geme. Tiền đóng học thêm đem nuôi tiệm quán. Năn nỉ thầy cô, năn nỉ con mãi cuối cùng mới có bằng tốt nghiệp PTTH cơ sở. Tín bảo:

-Học lắm cũng thất nghiệp. Làm công nhân khỏi hoc mệt người!

Thôi. Đất không nghe trời thì trời nghe đất. Làm chưa được hai năm, chưa có đồng nào gởi ba. Tín mang về một đứa đàn bà tóc sơn đỏ, mỏ sơn xanh, mí mắt sơn tím. Cái bụng thè lè kia! Phải con của nó hay không? Có trời mới biết? Nhà gái bắt đền kìa! Đám cưới tổ chức lễ nghi đâu đó. Sau đám cưới, ông dặn Trọng Tín:

-Giờ vợ con rồi, ráng mần ăn đi! Ba thấy trong người không còn khỏe nữa. Phần các chị, mỗi người một công đất, ba má cho tiền thay cho đất. 15 công còn nguyên vẹn. Ba cho anh ba 6 công. Phần của con là 9 công, luôn nhà cửa. Giàu út ăn nghèo út chịu. Vợ chồng lo cúng quảy tổ tiên…

Tín dạ vâng ngọt ngào làm ông mát ruột. Ừ con trai đàn ông, thằng nào mà không phá phách một thời? Phá trước ngoan sau còn hơn ngoan trước phá sau! Nó tu chí nghe lời là phúc mấy đời. Dè  đâu, chứng nào tật đó. Cà cuống chết, đít còn cay. Vợ đánh bài. Chồng cờ bạc, cá độ, đá gà bị công an kêu lên cảnh cáo.Vẫn không chừa, phải đi cải tạo lao động. Mới về nhà vài tháng thôi, Tín ăn nhậu trong đám cưới, gây gỗ, lỡ tay đánh chết người. Ấp cây me xì xào bàn tán:

-Đạo đức hiếu nghĩa chi mà thằng con du côn thế! Tổn thương danh dự làm ông thao thức.

 Bên kia họ chịu bãi nại. Ông bán bốn công đất để lo choTín ra tù. Vợ bỏ đi mất tăm, để lại hai đứa cho ông nuôi. Tín tiếp tục làm công nhân.  Ông đi hỏi vợ mới cho con, hy vọng kiềm chế nó.

-Vợ con gì cho mệt! Độc thân cho khỏe. Tín không chịu. Bởi gái gú  giờ đầy đường, có tiền mua tất. Ăn bánh trả tiền. Ngựa quen đường cũ rồi.

 Tín đòi ông sang tên đất đai nhà cửa. Hắn bảo:

-Ba già rồi. Sang tên liền đi!

-Chừng nào sang tên cũng được chớ nôn nóng chi hả con?

-Không được! Tuổi già phập phồng, sao biết được?

Ông hiểu đây mệnh lệnh của “trứng ngỗng” nhà ông. Công tử bạc liêu đòi gan trời phải có. Trai út kế thừa đương nhiên thôi? Nhường nhịn cho êm ấm trong nhà…

-Con thích thì ba chiều. Đây là tất cả mồ hôi của dòng họ nhà ta, con gìn giữ cho kỹ! Nếu mệnh hệ gì, ba chết mất con ơi!

Tín dễ dàng có trong tay khối tài sản lớn. Mắt hắn sáng như chớp: một công lúc này giá năm trăm triệu, năm công hơn ba tỷ. Đời người sống một lần, hưởng thụ cái cho đã! Bấy lâu thấy tụi kia chơi thèm không biết lấy đâu ra? Nhưng của cải đều do tay ổng làm ra. Hắn âm thầm toan tính. Đầu tiên phải lấy lòng ổng cái đã. Hơn một năm, Tín như con thỏ đế dạ vâng, tu chí mần ăn. Rồi cái kim trong túi lộ ra. Hắn coi ông như người ở trọ. Hễ có tiệc tùng, giỗ chạp là kéo bạn bè nhậu dầm dề. Chịu không thấu, ông nhắc nhở:

-Con chơi đâu ngoài quán xá cũng được. Ngày lễ nhà ta phải đâu đó chớ con!

Hơi men lừ nhừ, lè nhè, mắt vằn tia máu, da gà chọi, giọng lạnh lùng:

-Nhà của tui! Ông không chịu thì đi nơi khác. Chủ quyền giờ của ai?

Nghe lạnh xương sống! Bàng hoàng, ù đặc hai lỗ tai. Ông sống như cái bóng. Hùm thiêng thất thế sa cơ. Giặc nhà bó tay! Cơm canh mỗi ngày ông vẫn nấu cho “trứng ngỗng” xơi. Hắn làm về có khi ăn còn chê này nọ. Có khi xỉn, kiệt sức trai gái, bài bạc thâu đêm, không kịp lột giày nhảy lên giưởng ngủ li bì…

Chưa dừng lại. Tín hết tiền xài. Hắn tuyến bố rợn xương sống:

-Tui bán nhà đất trả nợ cho người ta. Ông đồng ý kí nhanh nhanh đi! Vay nợ lãi suất 20-30 phần trăm. Vay không chế chấp tài sản. Không thế chấp tài sản thì phải thế chấp tính mạng, vậy đó!

Ông đứng như trời trồng. Cảm giác tê dại. Không còn đau. Trời sa, đất sập dưới chân... Mần ăn để đức cho con, ai dè, tới nước này?

Mấy đêm không ngủ, mắt thao láo. Ông ra mộ bà, đốt nhang tạ lỗi:

-Tui không làm được như bà căn dặn, xin tạ lỗi với tổ tiên, với bà!

Cái trứng ngỗng của ông bao năm, nay thành con ngỗng trời vỗ cánh bay đi…Làm sao giữ được kẻ chà đạp lên quá khứ, nhẫn tâm khước từ thân thích?

Bảy đứa con gái yên bề gia thất. Thằng Ba ở Thủ